//
you're reading...
Diễn đàn pháp luật

Góp ý dự thảo Luật Tố cáo: Cần qui định rõ hơn quyền của người tố cáo

Công tác giải quyết tố cáo thời gian qua đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên những hạn chế, bất cập của các văn bản pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này và các lĩnh vực liên quan đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này.

Ảnh minh họa

Việc xây dựng Luật Tố cáo là nhằm thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác giải quyết tố cáo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần giải những bất cập, tồn đọng công tác giải quyết tố cáo hiện nay.

Dự thảo Luật Tố cáo có nhiều nội dung tiến bộ, phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tiễn của đời sống hiện nay như: ghi nhận thêm nhiều hình thức tố cáo mới, tiện lợi cho người dân như bằng điện thoại, thư điện tử, fax; Người xác minh nội dung tố cáo có trách nhiệm kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo; Việc bảo vệ người tố cáo; Giám sát công tác giải quyết tố cáo…

Về cơ bản, tôi nhất trí với các nội dung của dự thảo. Tuy nhiên, có một số vấn đề sau, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét:

Nên mở rộng chủ thế tố cáo

Khoản 4 Điều 3 dự thảo quy định: “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”.

Theo tôi, ngoài chủ thể tố cáo là công dân, cá nhân người nước ngoài thì nên mở rộng thêm chủ thể là tổ chức. Vì tố cáo phát sinhkhi một người hoặc nhiều người, có thể là tổ chức cho rằng lợi ích của Nhà nước, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức đã bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại và họ báo với cơ quan nhà nước. Mặt khác, Dự thảo Luật Tố cáo với ý nghĩa là Luật khung về tố cáo, cần ghi nhận quyền tố cáo của tổ chức vì điều đó phù hợp với một số văn bản pháp luật có liên quan và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật.

Việc tố cáo, nghĩa là báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật…là việc làm rất đáng khuyến khích, do đó, không nên hạn chế chủ thể tố cáo.

Tìm hiểu trong thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng cho thấy, có những trường hợp do hành vi vi phạm pháp luật của một cá nhân nào đó mà lợi ích của một tổ chức đã bị xâm phạm, khi đó, tổ chức có được tố cáo không? Nếu không tố cáo thì quyền lợi của tổ chức đó không được bảo vệ, nếu tố cáo thì luật lại không quy định chủ thể tố cáo là tổ chức. Trong trường hợp này, vì là lợi ích của tổ chức, nghĩa là lợi ích của tập thể bị xâm hại nên cũng không có một cá nhân nào lại đứng ra tố cáo với tư cách cá nhân cả. Khi chủ thể tố cáo là tổ chức, thì trong đơn cũng chỉ có một người đứng tên, đó là người đại diện hợp pháp của tổ chức theo quy định của pháp luật. Vì vậy, theo tôi, quy định tổ chức cũng là một chủ thể tố cáo là hoàn toàn hợp lý.

Xem tất cả tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo

Theo tôi, Ban soạn thảo nên cân nhắc, đưa trực tiếp vào dự thảo phương án 2. Không nên để “Trong trường hợp cần nghiên cứu, sử dụng thông tin do người tố cáo cung cấp để phục vụ công tác quản lý thì quy định trong Nghị định hướng dẫn thi hành”.
Đúng là trong thực tế, trong số tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo thì có tố cáo để vu cáo, vu khống, dó đó việc xác định trách nhiệm và xử lý đối với người vi phạm là rất khó khăn. Nhưng cũng do thực tế hiện nay tình trạng người tố cáo chưa được bảo vệ, thậm chí còn bị trả thù, trù dập. Vì vậy, có những người tố cáo không dám ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình khi tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, pháp luật về phòng, chống tham nhũng cũng đã quy định về xem xét, tham khảo các thông tin, tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng. Vì vậy, dự thảo Luật lần này cần quy định đối với  tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh hoặc hậu quả “gây thiệt hại lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” đã rõ thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết.

Quyền của người tố cáo: Cần qui định rõ hơn

Tại Điểm b, Khoản 1 Điều 24 dự thảo luật quy định:

“Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất trong thời gian 05  ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo, các tài liệu, chứng cứ (nếu có) phải chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo (nếu có yêu cầu)”

Như vậy, không phải mọi trường hợp người tố cáo đều Được nhận thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết mà họ chỉ được nhận khi “có yêu cầu”. Tuy nhiên, không phải người tố cáo nào cũng biết quy định này và tâm lý chung của người tố cáo đều mong muốn được biết: đơn tố cáo của mình được giải quyết đến đâu hay đã được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền nào để giải quyết. Do đó, theo tôi, để đảm bảo quyền của người tố cáo, nên quy định, trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, trong mọi trường hợp, nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đều phải chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo.

Điểm a, khoản 1, Điều 24 quy định: Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về thời điểm thụ lý tố cáo và các nội dung tố cáo được thụ lý.

Quy định này là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, liên quan đến việc thụ lý, tương tự như trong giải quyết khiếu nại, có rất nhiều câu hỏi đặt ra trong thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vì việc xác định thời điểm thụ lý liên quan đến các thời điểm giải quyết tố cáo sau này nên đây là một mốc thời gian quan trọng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vậy, thời điểm nào được coi là thời điểm thụ lý? Như thế nào được coi là thụ lý? Hình thức thụ lý là gì? Có cần có văn bản hay quyết định của người có thẩm quyền giải quyết hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết xác nhận về việc thụ lý này không. Đây là vấn đề đã và đang gây nhiều tranh luận trong thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay. Do đó, nếu có thể, Ban soạn thảo cân nhắc quy định rõ hơn về vấn đề này.

Chưa rõ chủ thế kết luận thanh tra phục vụ xác minh giải quyết tố cáo

Theo quy định tại Điều 34 và Điều 45 Luật Thanh tra, hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra được thực hiện dưới hai hình thức: thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất.

– Thanh tra theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt.

– Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.

Như vậy có nghĩa, trong một số trường hợp theo yêu cầu của việc giải quyết tố cáo, cơ quan thanh tra sẽ phải tiến hành cuộc thanh tra để phục vụ cho việc xác minh giải quyết tố cáo.

Tuy nhiên, trong dự thảo Luật Tố cáo chưa thấy quy định về vấn đề này. Trong trường hợp cần thanh tra để xác minh giải quyết tố cáo thì mọi thủ tục sẽ tiến hành theo quy định của Luật Thanh tra hay theo quy định của Luật Tố cáo? Ai sẽ là người kết luận? Vì theo Luật Thanh tra, người ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra sẽ là người ký Kết luận thanh tra, mà người ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra có thể là Chánh Thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp sẽ là người ký Kết luận thanh tra. Nhưng theo quy định tại Điều 28 dự thảo Luật Tố cáo, thì người xác minh nội dung tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo (Đương nhiên trên thực tế người đi xác minh nội dung tố cáo không thể là chánh Thanh tra hay Thủ trưởng cơ quan quản lý). Vậy, trong trường hợp này, qui định về chủ thể kết luận thanh tra phục vụ xác minh giải quyết tố cáo theo luật Tố cáo có mâu thuẫn với qui định về chủ thể kết luận thanh tra theo Luật Thanh tra?

Ngoài ra cần có quy định chế tài để đảm bảo kết luận, kiến nghị của người xác minh tố cáo được thực hiện, tránh trường hợp, mặc dù kết luận có vi phạm nhưng lại không bị xử lý hoặc xử lý qua loa, chiếu lệ, hình thức.

Ths. Tâm Đức

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: