//
you're reading...
Doanh nghiệp và Pháp luật

Quy định về quản lý vốn tạm ứng cho nhà thầu trong đầu tư XDCB: Cởi mở nhưng vẫn cần chặt chẽ

Xuất phát từ đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng thường phải chi ra một lượng vốn lớn, thời gian thực hiện thường kéo dài do vậy không một nhà thầu nào có thể đủ năng lực tài chính để thực hiện. Để các nhà thầu có đủ vốn thực hiện dự án, chủ đầu tư cần phải tạm ứng vốn cho các nhà thầu để nhà thầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện dự án đầu tư.

Để quản lý và sử dụng hiệu quả vốn tạm ứng, việc tạm ứng vốn cho các nhà thầu cần đảm bảo các yêu cầu như: Lượng vốn phải đủ lớn (Không tạm ứng cho nhà thầu quá ít, vì nếu tạm ứng quá ít gây rất khó khăn cho bên nhà thầu thực hiện quá trình thi công, đặc biệt đối với dự án đầu tư xây dựng thường có giá trị lớn, thời gian thực hiện thường kéo dài, nhà thầu phải huy động một lượng vốn lớn, hoặc phải vay ngân hàng với lãi suất cao, lãi không đủ bù chi phí; Song cũng không tạm ứng cho nhà thầu quá nhiều, vì nếu tạm ứng quá nhiều, nhà thầu sẽ chiếm dụng vốn); An toàn, chống được rủi ro; Chống được kẽ hở giữa chủ đầu tư và nhà thầu; Sử dụng đúng mục đích.

Những yêu cầu này được coi như thước đo tính hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn tạm ứng.

Tiêu chí Thông tư 27 Thông tư 130 Thông tư 86
Đối tượng được

tạm ứng

Tất cả các gói thầu của dự án đầu tư Tất cả các gói thầu của dự án đầu tư Tất cả các gói thầu của dự án đầu tư
Mức tạm ứng Tối đa Tối thiểu Tối đa đến 50%
Điều kiện tạm ứng Theo hợp đồng xây dựng Theo hợp đồng xây dựng
Quản lý tạm ứng Nhà thầu phải bảo lãnh tạm ứng Nhà thầu phải bảo lãnh tạm ứng
Thu hồi tạm ứng Khi thanh toán đạt 30% giá trị hợp đồng; thu hồi hết khi đạt 80% giá trị hợp đồng Thu hồi từ lần thanh toán đầu tiên; thu hồi hết khi đạt 80% giá trị hợp đồng Thu hồi từ lần thanh toán đầu tiên; mức thu hồi do 2 bên thỏa thuận,  kết thúc thu hồi khi giá trị thanh toán đạt 80% giá trị hợp đồng.
Sử dụng đúng mục đích Nếu sử dụng sai mục đích, sai đối tượng sẽ chấm dứt HĐ, hoàn trả số vốn đã tạm ứng

Cởi mở nhưng chặt chẽ

Từ những yêu cầu nói trên và  chiếu  vào cơ chế tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng XDCB từ Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 đến Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02/11/2007 và đến nay là Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 về việc quy định về quản lý vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn NSNN được bổ sung, sửa đổi, chúng ta có thể thấy như sau:

Cần tiếp tục hoàn thiện

Theo bảng so sánh trên đây, chúng ta có thể thấy rõ việc quản lý tạm ứng theo Thông tư 86/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 17/6/2011 và có hiệu lực từ ngày 05/8/2011 đã phần nào chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, khắc phục được những thiếu sót ở Thông tư 27 và Thông tư 130 của Chính phủ. Chiếu vào 4 yêu cầu nói trên, chúng ta có thể thấy những ưu điểm và hạn chế qua từng lần sửa đổi bổ sung các quy định về tạm ứng và thu hồi tạm ứng cho nhà thầu trong đầu tư XDCB như sau:

Ở Thông tư 27 mức tạm ứng quy định mức tối đa (như đối với giá trị gói thầu >50 tỷ đồng ( rất lớn), mức tạm ứng tối đa bằng 10% giá trị hợp đồng), dẫn đến nhà thầu phải đi vay để thi công công trình, chậm tiến độ, kéo dài tiến độ thi công, chất lượng không đảm bảo do không đủ tiền nên buộc phải làm giảm chất lượng công trình, đến Thông tư 130 lại thông thoáng hơn và đã khắc phục hạn chế của thông tư 27, quy định mức tạm ứng tối thiểu (như giá trị hợp đồng > 50 tỷ đồng, mức tạm ứng tối thiểu bằng 10% giá trị hợp đồng) nhưng lại không quy định mức tạm ứng tối đa là bao nhiêu dẫn đến nhà thầu và chủ đầu tư có thể có tình trạng móc ngoặc, lạm dụng vốn bằng cách tạm ứng vốn 100%. Đến nay, Thông tư 86/2011/TT-BTC đã khắc phục được hạn chế của Thông tư 27 là Thông tư 130 nói trên là đã quy định mức tạm ứng tối đa không quá 50%. Nếu tạm ứng >50% thì phải có ý kiến của người quyết định đầu tư.

Chống được rủi ro, ở Thông tư 27 và các Thông tư trước Thông tư 27 đã có những biện pháp chống được rủi ro, tuy nhiên chưa được khả thi và pháp luật hoá, đến Thông tư 130 và Thông tư 86 đã quy định chặt chẽ điều kiện tạm ứng và quản lý tạm ứng bằng cách nhà thầu phải nộp bảo lãnh tạm ứng và thực hiện theo hợp đồng xây dựng để bảo toàn vốn và đề phòng rủi ro cho chủ đầu tư (đã khắc phục nhiều điểm hạn chế của Thông tư 27) và việc thu hồi tạm ứng được gắn liền với lần thanh toán đàu tiên và thu hồi hết khi thanh toán khối lượng hoàn thành đạt 80% giá trị hợp đồng đã góp phẩn giảm thiểu được rủi ro cho quá trình tạm ứng vốn.

Ở Thông tư 27 và thông tư 130 cũng đã nêu vấn đề này, nhưng chưa cụ thể và pháp luật hoá, đến Thông tư 86 đã giải quyết trọn vẹn hơn và khẳng định chủ đầu tư phải có trách nhiệm cùng với nhà thầu tính toán mức tạm ứng hợp lý, quản lý việc sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả nếu sai mục đích thì chủ đầu tư phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chấm dứt hợp đồng và thu hồi số vốn tạm ứng sai mục đích. Việc ra đời Thông tư 86 là cơ sở pháp lý cho các Bộ, Ngành quản lý tạm ứng vốn đầu tư, tránh được khá nhiều tiêu cực và những vấn để còn đang nổi cộm trong khâu quản lý vốn tạm ứng.

Chống được kẽ hở giữa chủ đầu tư và nhà thầu. Ở thông tư 27 quy định thu hồi tạm ứng khi thanh toán đạt 30% giá trị hợp đồng và thu hồi hết khi đạt 80% giá trị hợp đồng, đến thông tư 130 và thông tư 86 quy định việc thu hồi tạm ứng từ lần thanh toán đầu tiên, thu hồi hết khi đạt 80% giá trị hợp đồng, nhưng vấn đề thu hồi tạm ứng từ lần thanh toán đầu tiên vẫn chưa quy định mức thu hồi tạm ứng là bao nhiêu, nên vẫn chưa đảm bảo chặt chẽ cho việc ký hợp đồng và vẫn tạo kẽ hở móc ngoặc giữa chủ đầu tư và nhà thầu.

Để khắc phúc tồn tại nêu trên, đề nghị Bộ tài chính nên nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi Thông tư 86 nói trên, cũng cần quy định cụ thể một tỷ lệ tối thiểu nào đó, chẳng hạn như khi tạm ứng khoảng 40% giá trị hợp đồng, phải quy định tỷ lệ thu hồi tạm ứng khoảng 15-20% từ lần thanh toán đầu tiên
Như vậy, từ những so sánh và phân tích trên đây chúng ta thấy mức tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng ngày càng được quản lý hoàn thiện và chặt chẽ hơn. Thay vì siết chặt mức tạm ứng vốn, các điều kiện để được tạm ứng, được quy định cụ thể rõ ràng, mức tạm ứng được coi là cởi mở khi không khống chế mức tối đa ở Thông tư 27, mà chỉ quy định mức tối thiểu ở Thông tư 130, đến nay là Thông tư 86 đã quy định mức tạm ứng tối đa và việc thu hồi tạm ứng được tiến hành ngay từ đợt thanh toán đầu tiên đã khắc phục được tình trạng ngâm vốn của nhà thầu. Nếu kết hợp thêm quy định cụ thể tỷ lệ tối thiểu giữa tạm ứng và thu hồi tạm ứng thì việc quản lý tạm ứng và thu hồi tạm ứng đã phần nào chặt chẽ, hoàn thiện, chống được các rủi ro, lạm dụng vốn, sử dụng vốn sai mục đích và chống tình trạng móc ngoặc giữa chủ đầu tư và nhà thầu.

Phương Nga

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

Advertisements
%d bloggers like this: