//
you're reading...
Doanh nghiệp và Pháp luật

Sự thật vụ tranh chấp giữa Công ty Cổ phần Tập đoàn nhựa Đông Á và Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Tây Đô : Phức tạp vì doanh nhân không theo luật

Công ty Cổ phần Tập đoàn nhựa Đông Á (Công ty Đông Á) mua cổ phần Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Tây Đô (Công ty Tây Đô) nhằm đầu tư thực hiện Dự án khu văn phòng cho thuê. Dự án gặp trở ngại, Đông Á xin rút vốn, không rút được vốn thì gửi đơn tố cáo đến cơ quan Công an rồi báo chí thay vì đến Tòa án…

Vụ việc vốn đơn giản đã trở nên phức tạp này, báo động về nhận thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ doanh nhân hiện nay.

Mua cổ phần rồi… rút lại tiền

Ngày 10-8-2007 đại diện Đông Á là vợ chồng ông Nguyễn Bá Hùng – Chủ tịch HĐQT, bà Trần Thị Lê Hải – Tổng giám đốc; phía Tây Đô là vợ chồng ông Lê Đức Long – Chủ tịch HĐQT, bà Trịnh Thị  Hải Yến – Tổng giám đốc đã lập  Biên bản thỏa thuận về việc đầu tư , mua cổ phần của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư Tây Đô

Hai bên đã thảo luận về dự án  Khu văn phòng cho thuê tại thôn Thượng, xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội với diện tích đất sử dụng 2610,8m2, thời hạn sử dụng tối thiểu là

“Luật cấm cổ đông rút vốn nhưng các doanh nhân tưởng như dày dạn thương trường này lại “hồn nhiên” thỏa thuận về rút vốn cho thấy nhận thức về pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật của cả hai bên rất hạn chế”.

50 năm; quy mô công trình 20 tầng  và dự án Trường tiểu học tư thục Hải Yến tại xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Hai bên còn thỏa thuận, thống nhất giá trị lô đất thực hiện dự án Văn phòng của Công ty Tây Đô là 50 tỷ đồng. Vốn điều lệ của Công ty Tây Đô là 63 tỷ đồng, cơ cấu góp vốn là Công ty Đông Á 50% , Công ty Tây Đô 50%, tức là mỗi bên 31,5 tỷ đồng. Phần góp vốn của Đông Á chia làm 5 lần.

Trong bản thỏa thuận lại có ghi “Công ty Tây Đô có trách nhiệm hoàn thiện các thủ tục pháp lý về đăng ký kinh doanh và bản Điều lệ điều chỉnh, bổ sung về Cổ đông sáng lập, vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp với cơ quan đăng ký kinh doanh sau khi đã thống nhất với Đông Á”.

Hai bên đã thống nhất cùng nhau triển khai và cam kết “nhanh chóng, tích cực và thiện chí” trong phần trách nhiệm mỗi bên. Bên Tây Đô cung cấp cho Đông Á bộ hồ sơ pháp nhân; hồ sơ và thông tin liên quan đến hai dự án; hoàn thiện thủ tục về dự án. Trong trường hợp các cổ đông hiện hữu của Công ty Tây Đô trong thời hạn 6 tháng không hoàn  chỉnh được thủ tục pháp lý cho dự án thì Công ty Tây Đô có trách nhiệm hoàn lại tiền, vốn mà Công ty Đông Á đã góp cộng theo 1%/ tháng lãi suất cho số tiền trên.

Đối với bên Công ty Đông Á thì chuẩn bị sẵn nguồn vốn để góp theo thỏa thuận; tiếp tục thương thảo để thông qua điều lệ Công ty Tây Đô và các thỏa thuận chi tiết cho dự án.

Các bên đã thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, theo đó  Công ty cổ phần Tập đoàn nhựa Đông Á nhận chuyển nhượng từ các cổ đông của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư Tây Đô cụ thể là mua của ông Lê Đức Long 1.400.000 cổ phần, bà Trịnh Thị Hải Yến 1.725.000 cổ phần và bà Lê Thị Minh Loan 250.000 cổ phần, với mệnh giá 10.000đ/ cổ phần, tương đương 31,5 tỷ đồng. Như vậy là mua ngang giá.

Sau đó, Công ty Tây Đô đã làm các thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh và đã được  Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp Đăng ký kinh doanh thay đổi ngày 9-8-2007, ghi rõ vốn điều lệ là 63 tỷ đồng, trong đó Công ty cổ phần Tập đoàn nhựa Đông Á  là cổ đông  có 3.150.000 cổ phần.

Thỏa thuận vô hiệu vì trái pháp luật

Như vậy, Công ty Đông Á đã trở thành cổ đông, nhưng không phải là cổ đông sáng lập,  như thỏa thuận đã ký kết, mà chỉ là cổ đông thường do đã nhận chuyển nhượng cổ phần từ ba cổ đông đã nêu.  Theo Luật doanh nghiệp thì cổ đông sáng lập là những người tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của Công ty cổ phần.

Vì đã là cổ đông của Công ty Tây Đô nên Công ty Đông Á có trách nhiệm chuyển đủ 31,5 tỷ đồng mua 3.150.000 cổ phần vào tài khoản của Công ty Tây Đô, nhưng Công ty Đông Á mới nộp được 20 tỷ đồng thì dừng lại ( lý do là dự án bị đình trệ chưa thực hiện được). Dù lý do gì thì Công ty Đông Á cũng đã vi phạm khoản 1 Điều 80 Luật Doanh nghiệp quy định về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông “Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”. Vi phạm như vậy nhưng Công ty Tây Đô vẫn bầu ông Nguyễn Bá Hùng làm Chủ tịch HĐQT (?!).

Sai phạm thứ nhất không được khắc phục thì hai bên lại ký Biên bản thỏa thuận rút lại vốn ngày 21-4-2008, theo đó, do chưa hoàn thiện được thủ tục dự án xây văn phòng cho thuê nên Công ty Đông Á quyết định  rút lại vốn. Hai bên thống nhất rằng Công ty Tây Đô trả lại cho Công ty Đông Á số vốn 20 tỷ đồng đã góp cộng số lãi thành 21,353 tỷ đồng. Sau khi Công ty Tây Đô chuyển hết tiền thì Công ty Đông Á có trách nhiệm chuyển trả tất cả số cố phần (50%) mà Đông Á đang nắm giữ của Công ty Tây Đô cho bà Trịnh Thị Hải Yến.

Thỏa thuận này trái quy định của pháp luật bởi lẽ, số tiền 20 tỷ đồng sau khi Đông Á chuyển cho Tây Đô thuộc quyền sở hữu của Công ty Tây Đô, không còn là sở hữu của Công ty Đông Á nữa, nhưng Công ty Tây Đô hay cá nhân ông Long, bà Yến không có quyền trả lại cho Công ty Đông Á. Khoản 1 Điều 80 Luật Doanh nghiệp quy định nghĩa vụ cổ đông phổ thông là “Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì thành viên Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút”.

Luật cấm cổ đông rút vốn nhưng các doanh nhân tưởng như dày dạn thương trường này lại “hồn nhiên” thỏa thuận về rút vốn cho thấy nhận thức về pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật của cả hai bên rất hạn chế.

Mục đích của Công ty Đông Á ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần với ba cổ đông khác để trở thành cổ đông của Công ty Tây Đô là muốn cùng nhau thực hiện các dự án xây dựng tòa nhà Văn phòng cho thuê trên thửa đất 2610,8m2 tại Mỹ Đình. Đây là dự án có thật nhưng do vướng mắc về thủ tục xin giấy phép, khi không đạt mục đích, Công ty Đông Á muốn rút vốn đã góp thì phải thực hiện theo Điều 90 quy định về công ty mua lại cổ phần hoặc khoản 5 Điều 87 quy định về bán cổ phần cho người khác.

Khoản 5 Điều 87 về chào bán và chuyển nhượng cổ phần quy định: ” Các cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thường hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu. Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện uỷ quyền của họ ký. Bên chuyển nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào sổ đăng ký cổ đông. Trường hợp chỉ chuyển nhượng một số cổ phần trong cổ phiếu có ghi tên thì cổ phiếu cũ bị huỷ bỏ và công ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số cổ phần còn lại”.

Điều 90 về mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định: “1. Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định về các vấn đề quy định tại khoản này. 2.Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thoả thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng”.

Như vậy, nếu các bên không thỏa thuận được về giá thì yêu cầu định giá. Trong trường hợp cụ thể này, 2.000.000 cố phần của Công ty Đông Á có thể cao hơn giá ban đầu 20 tỷ đồng, cũng có thể ngang giá hay thấp hơn.

Tại điểm b khoản 1 Điều 77 Luật Doanh nghiệp quy định, công ty cổ phần tối thiểu phải có ba thành viên nên Công ty Tây Đô muốn duy trì thì phải có ít nhất 3 cổ đông, nên Công ty Đông Á phải bán cổ phần của mình cho ba người, chứ không thể chỉ bán cho ông Long và bà Yến.
Vì những lẽ trên, thỏa thuận giữa bà Yến đại diện Công ty Tây Đô với ông Hùng đại diện Công ty Đông Á trả lại 21,3 tỷ đồng mà Công ty Đông Á đã góp nêu trên là không đúng quy định của pháp luật, thỏa thuận này vô hiệu.

Phức tạp không đáng có

Như vậy, có thể thấy quá trình hợp tác, chuyển nhượng cổ phần giữa hai Công ty Đông Á và Tây Đô đã diễn ra công khai, minh bạch, nhưng do không nắm vững, không tuân thủ quy định của pháp luật nên vụ việc  trở nên phức tạp.

Công ty Đông Á thay vì tìm hiểu để giải quyết việc chuyển nhượng cổ phần đúng pháp luật thì lại chuyển đơn tố cáo đến cơ quan Công an vì cho rằng mình bị lừa đảo và chiếm đoạt tài sản. Tất nhiên, các cơ quan Công an đã không thấy dấu hiệu hình sự trong vụ tranh chấp này.
Chúng tôi cho rằng, nếu hai bên không tự thỏa thuận được, xảy ra tranh chấp thì đây là tranh chấp kinh doanh giữa thành viên công ty với Công ty. Nếu không tự giải quyết tranh chấp thì  các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân tp Hà Nội theo quy định tại khoản 3 Điều 29 và tại điểm a khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, chứ không thể giải quyết bằng pháp luật hình sự.

Đơn tố cáo của Công ty Đông Á còn nêu một việc khác là cuối năm 2007, Công ty này cũng mua một lô đất diện tích 650m² nằm trong khuôn viên khu đất của bà Yến tại khu Chũng Bói, thôn Phú Mỹ, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm với giá 10.000.0000 đồng/m². Trong thời gian 1 tháng kể từ khi nhận 6,5 tỷ đồng, ông Long và bà Yến vẫn không giao đất. Đến hết ngày 31/12/2008 là ngày mà ông Long và bà Yến phải hoàn thiện xong việc cấp sổ đỏ đất ở và bàn giao hồ sơ giấy tờ hợp pháp mang tên bên mua nhưng ông Long và bà Yến không hoàn thành. Ông Hùng cho rằng mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bà Trịnh Thị Hải Yến cho biết: Từ năm 2005 vợ chồng bà Yến đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nhiều hộ gia đình ở Khu Chũng Bói xã Mỹ Đình diện tích khoảng 15.000 m2 để làm dự án Trường học chất lượng cao và UBND huyện Từ Liêm đã có quyết định thành lập trường tư thục Hải Yến do bà Yến làm hiệu trưởng. Ông Hùng cũng có nguyện vọng cùng đầu tư vào khu đất làm trường nên xin chuyển nhượng khoảng 650 m2 với giá 6,5 tỷ đồng. Các văn bản thỏa thuận cam kết chuyển nhượng do ông Hùng soạn thảo đưa vợ chồng bà Yến ký. Khi có thông tin khu đất bị thu hồi, ông Hùng đã đòi lại tiền, bà Yến đã trả cho ông Hùng được 5 tỷ đồng, còn lại 1,5 tỷ đồng hẹn trả sau.

Ai quan tâm đến dự án này cũng biết khu đất Chũng Bói của gia đình bà Yến đã bị Công ty Ninh Bắc liền kề chồng lấn và một phần lớn bị thu hồi, việc này bà Yến đã khiếu nại quyết liệt, báo chí đã có nhiều bài phanh phui sai phạm trong việc thu hồi đất này, Thanh tra Chính phủ và nhiều vị lãnh đạo đã quan tâm chỉ đạo xử lý đúng pháp luật. Bà Yến cho rằng, nếu được trả lại để xây trường hay có tiền đền bù, lúc đó bà Yến sẽ trả lại phần còn lại của ông Hùng.

Như vậy, việc đầu tư của ông Hùng với bà Yến có rủi ro, trong lúc tài sản bị phá dỡ tan hoang, là đối tác ông Hùng không chia sẻ mà đòi tiền bằng được, bà Yến đã trả 5 tỷ đồng là một cố gắng rất lớn. Do đó, cả về tình và lý vợ chồng bà Yến đều không sai. Tương tự như vụ việc trên, nếu không tự giải quyết được thì các bên có thể khởi kiện tại Tòa án theo thủ tục dân sự.

Vụ việc giữa Công ty Cổ phần Tập đoàn nhựa Đông Á và Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Tây Đô  cho thấy một bài học, nếu tình trạng nhận thức pháp luật của các doanh nghiệp hạn chế, ý thức tuân thủ pháp luật không được đề cao, không được khắc phục thì tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Hy vọng từ bài học này hai doanh nghiệp nói riêng, các doanh nghiệp khác nói chung có thêm những kinh nghiệm xương máu trước khi mang vốn ra thương trường vốn được ví như chiến trường hiện nay.

“Vụ việc này nếu hai bên không tự thỏa thuận được, xảy ra tranh chấp thì đây là tranh chấp kinh doanh thương mại giữa thành viên công ty với Công ty. Nếu không tự giải quyết tranh chấp thì  các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân tp Hà Nội theo quy định tại khoản 3 Điều 29 và tại điểm a khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, chứ không thể giải quyết bằng pháp luật hình sự”.

Thái Vũ (Nguồn: TC Pháp lý)

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

Advertisements
%d bloggers like this: