//
archives

Hồ sơ vụ án

This category contains 53 posts

Bình Phước: Tòa không mở, vẫn có biên bản xử công khai!

Vụ việc vi phạm nghiêm trọng luật pháp nêu trên lại do những người rất hiểu pháp luật, gồm: thẩm phán và thư ký tòa án dựng lên nhằm che dấu những sai phạm của mình. Hiện các cơ quan chức năng đang điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật. Trước mắt, huyện ủy Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã có công văn gửi Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tỉnh và Chánh án tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước không xem xét, đề nghị tái bổ nhiệm thẩm phán cho ông Đỗ Đình Hiến như trước đó Ban thường vụ huyện ủy đã thống nhất hiệp y.

 

Công văn gửi Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tỉnh và Chánh án tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước của bí thư huyện Hớn quản

Lập HĐXX “ảo” và biên bản “ma”

Ngày 6/6, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản chuyển hồ sơ vụ án và cáo trạng truy tố bị can Nguyễn Hoàng Khanh can tội “Trộm cắp tài sản” sang TAND huyện. Ngày 1-7, thẩm phán Đỗ Đình Hiến ký quyết định đưa vụ án ra xét xử lúc 7 giờ 30 phút ngày 14-7, với thành phần, gồm: thẩm phán Đỗ Đình Hiến, các hội thẩm nhân dân Trịnh Văn Đoan, Bùi Duy Dũng. Thư ký phiên tòa Võ Văn Vân, kiểm sát viên Nguyễn Đức Dũng. Bị cáo Nguyễn Hoàng Khanh, bị hại Tạ Văn Tuấn và những người tham gia tố tụng khác có tên trong hồ sơ vụ án.

Đến giờ xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đến đầy đủ thì được thư ký Võ Văn Vân thông báo hoãn xử do thiếu luật sư bào chữa cho bị cáo.

Ngày 8/8, Viện kiểm sát nhân dân huyện nhận lại hồ sơ vụ án Nguyễn Hoàng Khanh do Hội đồng xét xử TAND huyện Hớn Quản trả lại. Sau khi kiểm tra hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân đã rất bất ngờ vì phiên tòa ngày 14/7 không diễn ra, thế nhưng trong hồ sơ vụ án lại có biên bản thể hiện phiên tòa… được xét xử công khai với đầy đủ các thành phần: chủ tọa – thẩm phán Đỗ Đình Hiến, hội thẩm nhân dân Trịnh Văn Đoan, Bùi Duy Dũng. Thư ký phiên tòa Võ Văn Vân, kiểm sát viên Nguyễn Đức Dũng, bị cáo Nguyễn Hoàng Khanh, bị hại Tạ Văn Tuấn và những người khác có tên trong hồ sơ vụ án!

Quy trình bổ nhiệm thẩm phánPháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm tòa án nhân dân, quy định: nhiệm kỳ thẩm phán kéo dài 5 năm. Sau thời gian này, muốn được bổ nhiệm lại, thẩm phán phải viết bản kiểm điểm bản thân trong quá trình công tác. Lấy phiếu tín nhiệm tại cơ quan, sau đó đơn vị thẩm phán đang công tác chuyển hồ sơ sang Ban Thường vụ quận ủy, huyện ủy hoặc thị ủy (nếu là cấp quận, huyện, thị) để xin lý kiến bằng văn bản hiệp y thống nhất. Sau đó Chánh án TAND tỉnh lập tờ trình để trình Hội đồng tuyển chọn thẩm phán cấp tỉnh. Hội đồng này họp xét rồi lập tờ trình để đề nghị Chánh án TAND Tối cáo bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm thẩm phán.

Cũng theo báo cáo của VKSND huyện gửi thường trực Huyện ủy Hớn Quản, trong hồ sơ vụ án khi chuyển sang tòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện đã gửi kèm theo công văn yêu cầu luật sư bào chữa cho bị cáo Khanh theo quy định của pháp luật do Khanh chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên sau đó bị cáo Khanh và người giám hộ đã có đơn từ chối luật sư. Thế nhưng trong hồ sơ do TAND huyện trả lại có cả biên bản thảo luận của… TAND huyện với Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện để điều tra bổ sung với lý do “Cơ quan Cảnh sát điều tra – Viện kiểm sát nhân dân huyện đã không yêu cầu luật sư bào chữa cho bị cáo vì đến khi xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi”!

Động cơ gì?

Được biết, thẩm phán cùng với các thành viên trong hội đồng xét xử được nhân danh công lý và nhân danh nhà nước để tuyên án đối với các những người vi phạm pháp luật. Việc thẩm phán Đỗ Đình Hiến và thư ký tòa án Võ Văn Vân đã tạo dựng biên bản xử án công khai mà không có bất cứ phiên tòa nào được tổ chức đã khiến dư luận cán bộ, nhân dân tại địa phương đặt dấu hỏi: việc tạo dựng biên bản phiên tòa và bản thảo luận “ma” của TAND với HĐXX nhằm động cơ gì?

Bởi vì thẩm phán Đỗ Đình Hiến là người công tác lâu năm trong hệ thống cơ quan thực thi pháp luật thì không thể nói là do thiếu hiểu biết về pháp luật nhất là trong lĩnh vực xét xử và thủ tục xét xử. Một thẩm phán hiện đang công tác tại TAND tỉnh Bình Phước (xin không nêu tên), cho biết việc dựng biên bản xét xử công khai nhưng không có phiên tòa là hành vi cố ý, hoàn toàn không phải là một tai nạn nghề nghiệp mà phải có gì đó đằng sau.

Không tái bổ nhiệm để điều tra

Sau khi xác minh vụ việc có tính chất vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ngày 23-8, VKSND huyện có công văn báo cáo toàn bộ vụ việc đến thường trực huyện ủy Hớn Quản. Đến ngày 24-8, ông Võ Thành Công, Bí thư huyện ủy huyện Hớn Quản ký công văn số 127/CV-HU gửi chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tỉnh, Chánh án TAND tỉnh Bình Phước, với nội dung: “Viện KSND huyện Hớn Quản đã tiến hành xác minh những người tiến hành tố tụng và tham gia phiên tòa theo quyết định đưa vụ án ra xét xử trên. Xác định họ không tham gia xét xử vào ngày 14-7-2011 do đã được thư ký phiên tòa Võ Văn Vân thông báo hoãn xét xử. Do vậy, biên bản phiên tòa và bản thảo luận của TAND với HĐXX là trái pháp luật do thẩm phán Đỗ Đình Hiến và thư ký Võ Văn Vân tự dựng lên để hợp thức hóa hồ sơ vụ án nhằm tránh vi phạm pháp luật”.

Công văn cũng đề nghị Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn thẩm phán tỉnh, Chánh án TAND tỉnh Bình Phước không xem xét tái bổ nhiệm thẩm phán cho ông Đỗ Đình Hiến như biên bản hiệp y mà Ban thường vụ huyện ủy Hớn Quản đã thống nhất đề nghị vào ngày 25-7, để cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Nhật Minh (TC Pháp lý)

Advertisements

Án xưa- tích xưa: Những hoạn quan lũng đoạn triều đình

Dẫu nhiều triều đại đã có ý thức hạn chế quyền hành của hoạn quan nhưng trong lịch sử vẫn có không ít trường hợp “ngoại lệ” xảy ra. Có những người tài năng, nhờ được vua yêu mà lập nên nghiệp lẫy lừng, lưu danh muôn thuở. Trái lại, cũng có những người dựa thế vua mà khuynh loát triều đình, tạo nên cái thế rối loạn, suy sụp. Hoạn quan mỗi khi lấn quyền triều đình thì đó là cái họa lớn. Nguyên do cũng bởi “ông vua đương địa làm đầu têu, thấy chúng dễ sai bảo nên yêu thích, rồi hết sức tin cậy, rốt cuộc quyền thế của chúng đã thành, không thể đè nén được…” (trích bài dụ của vua Minh Mạng hiện còn lưu ở Văn Miếu, Huế).

Hình ảnh quan thái giám dưới các triều đại phong kiến

Dương Chấp Nhất và liều thuốc độc đầu độc Nguyễn Kim

Dương Chấp Nhất là người Hoằng Hóa (Thanh Hóa), quan nội thị, võ tướng triều Mạc Đăng Doanh, làm đến chức Chưởng bộ, được phong tước Trung Hậu hầu, giao coi 3 phủ Thanh Hóa, làm Tổng trấn cả một phương.

Trong triều, mọi việc lớn nhỏ Đăng Doanh đều nghe theo sự sắp đặt của Trung Hậu. Đăng Doanh luôn phải lo đối phó với thanh thế nhà Lê. Biết được nỗi lo của bề trên, Trung Hậu lặng lẽ lấy giấy bút ra viết hai chữ “trá hình” nhằm lấy lòng tin của vua Lê và “đục nước béo cò” sẽ ra tay sát hại. Đích thân Trung Hậu sẽ là người thực hiện kế sách đó.

Sau khi quân đội vua Lê chiếm thành Tây Đô mà không phải động binh, Trung Hậu hầu đã đem con em tới lạy chào ở cửa nam thành. Vua Lê tỏ ra mừng rỡ khi biết mình đã thu phục được một viên tướng của nhà Mạc.

Trung Hậu hầu nhanh chóng lấy được lòng tin của vua Lê và các quan đại thần trong triều, đặc biệt là Thái sư Nguyễn Kim. Ông không chỉ phục Trung Hậu về tài cầm quân mà còn ở thái độ. Y biết thế của kẻ đầu hàng, cố sức phò vua Lê nhưng không cố tỏ ra quỵ lụy, khúm núm. Bởi vậy, khi Trung Hậu hầu mở tiệc ở dinh thiết đãi các viên tướng nhà Lê và Thái Sư, Nguyễn Kim vui vẻ đến ngay.

Nguyễn Kim dốc cạn chén rượu Trung Hậu dâng mà không chút nghi ngờ về hai chữ “lòng trung” đang được Y thực hiện dưới kế sách “trá hình”. Một lát sau, Nguyễn Kim cảm thấy mệt mỏi, choáng váng nên cáo từ ra về. Hậu còn cho người đưa Thái sư về tận dinh. Đêm ấy, Thái sư đau đớn vật lộn, trên da xuất hiện nhiều vết đen. Sau khi biết mình trúng phải chất kịch độc, Nguyễn Kim đau đớn nấc lên, nôn ộc ra một vũng máu rồi chết.
Quân lính kéo tới vây dinh của Trung Hậu hầu thì thấy xung quanh tĩnh lặng, yên ắng như tờ. Dường như mọi người trong dinh đang ngủ say. Cố gắng lắm, quân lính mới vào được dinh. Họ nhìn thấy mấy lính canh đang dựa vào tường ngủ. Tới gần họ phát hiện ra đó là những bù nhìn mặc quần áo lính. Đèn nến lập tức được thắp sáng choang, tiếng la hét, tiếng chân đuổi bắt chạy rầm rập…

Tuy kế sách chưa hoàn thành trọn vẹn, vua Lê vẫn chưa bị hạ độc thủ nhưng Mạc Đăng Doanh hết lời ca ngợi Dương Chấp Nhất: “Khanh rất xứng đáng với cái tên Trung Hậu mà ta đã đặt cho”.

Nguyễn Cung và sự kín đáo lấy lòng vua

Nguyễn Cung, quan nội thị của vua Lê Thái Tông, bị cha mẹ thiến từ nhỏ và được sung vào cung. Lúc mới vào triều Cung vô cùng bỡ ngỡ nhưng rồi cũng quen dần với mọi lễ nghi trong triều. Nhớ lời cha dặn “Nếu con tốt số được hầu hạ Hoàng thượng thì phải cần mẫn, chăm chỉ, hết lòng hầu hạ người. Rồi người sẽ ban cho con bổng lộc…”, nên Cung làm việc cần cù, chịu khó nhưng lại tỏ ra hết sức kín đáo nên Hoàng thượng rất vừa ý. Khi Thái tử Nguyên Long ra đời, Cung được đưa về chuyên hầu hạ Thái tử. Cung khéo léo, biết cách dỗ dành, lại bày ra nhiều trò chơi nên Thái tử rất yêu Cung, không chịu xa Cung nửa bước.

Khi Lê Thái Tổ băng hà, Nguyên Long lên nối ngôi hoàng đế lấy hiệu Thái Tông. Khi ấy vua trẻ mới 11 tuổi. Theo di chiếu, nhà vua cầm quyền nhờ sự phò trợ của các đại thần. Các đại thần phải tìm cho vua trẻ những thầy học xứng đáng để thực hiện sự ủy thác của Thái Tổ. Tuy nhiên vua trẻ lại không coi trọng thầy học bằng các cận thần trong đó có hoạn quan Nguyễn Cung.

Các nguyên sát trong triều như Lê Sát, Lê Ngân thấy nhà vua chểnh mảng việc nước, xin giết Nguyễn Cung nhưng nhà vua không nghe. Các viên quan đại thần này đã phải cáo ốm không vào chầu. Thiên Tước đã phải dâng sớ: “Đại tư đồ Lê Sát chọn dùng nho thần vào hầu ở bên là có ý muốn bệ hạ được như vua Nghiêu, vua Thuấn mà thôi. Sao bệ hạ coi nhẹ tông miếu xã tắc, không thấy lòng trung thành của họ, để họ lo buồn mà không vào chầu?”. Nghe xong lời tâu đó, nhà vua im lặng. Ngài hiểu lời Thiên Tước là đúng nhưng trong thâm tâm, Ngài rất yêu mến Cung, không muốn xa Cung thì sao có thể hạ lệnh giết Cung được. Nhưng trước áp lực của các quan trong triều, Hoàng thượng buộc phải hạ lệnh, ban cho Cung rất nhiều tiền, vàng bạc, châu báu để Cung tạm lánh về quê ít ngày.

Mưu mô xảo trá như Đinh Thắng

Đinh Thắng, quan nội thị có vai trò rất lớn trong cung đình nhà Lê, được Hoàng Hậu Nguyễn Thị Anh tin dùng. Theo dã sử, viên quan này đã dựng màn kịch để đẩy Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao cùng Hoàng tử Tư Thành ra khỏi cung, đóng vai trò quan trọng gây nên thảm án chu di tam tộc dòng tộc Nguyễn Trãi.

Cảnh tru di tam tộc nhà Nguyễn Trãi được dựng thành kịch

Câu nói của Đinh Thắng với Nguyễn Liễu ở triều đình: “Hoạn quan làm gì mà phá hoại thiên hạ? Nếu phá hoại thiên hạ thì chém đầu ngươi trước” được chính sử ghi lại cho thấy thời kì này hoạn quan đã lũng đoạn và tác động rất lớn đến công việc nội trị thời Lê Thái Tông.

Đinh thắng được sung vào cung làm thái giám lúc còn nhỏ tuổi. Khi Nguyễn Thị Anh mới được tuyển vào làm phi, Thắng chuyên hầu hạ và làm những việc vặt do Nguyễn Thị Anh sai bảo. Thắng nhanh nhẹn, khôn ngoan lại biết rõ mọi chuyện trong các xó xỉnh của nội cung nên dần dần được Nguyễn Thị Anh tin cậy, coi như một người tâm phúc. Thắng cũng biết rõ Nguyễn Thị Anh là người đàn bà xinh đẹp nhưng đầy mưu mô, xảo trá, thường chiếm được sự ưu ái lớn của Hoàng thượng. Thắng tự nhủ, làm tai mắt cho Nguyễn Thị Anh thì mới có cơ may được thăng tiến. Bởi vậy, Thắng luôn luôn tỏ rõ sự mẫn cán của mình. Thắng thường lựa lúc thuận lợi, nói tốt cho Nguyễn Thị Anh và nhiều lần bố trí, lôi kéo vua vào cung Nguyễn Thị. Chẳng bao lâu sau, Nguyễn Thị Anh có tin mừng. Hoàng tử Bang Cơ ra đời là cầu nối đưa Nguyễn Thị Anh lên ngôi hoàng hậu.

Giữa lúc đó, Tiệp dư Ngọc Dao vốn là người duyên dáng, dịu dàng, hiền hậu được vua sủng ái lại đang mang thai. Hoàng hậu sợ Tiệp dư sinh được con trai thì Hoàng tử Bang Cơ sẽ không được kế vị bèn cấu kết với Đinh Thắng, để lập mưu hại Tiệp Dư.

Đinh Thắng lấy một hình nhân đàn ông, lấy 7 mũi kim đâm vào lưng và ngực, dưới chân ghi chữ Bang Cơ và cố tình để cho một cung nhân bắt được tâu lên vua. Hoàng hậu là kẻ chủ mưu nhưng lại ra vẻ là người bị hại và đòi nhà vua phải truy cứu việc này đến cùng, phải tìm ra được người làm việc này và xử theo luật cho voi dày ngựa xéo. Một không khí nặng nề bao trùm trong cung. Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao là người bị nghi ngờ nhiều nhất. Nhà vua rất băn khoăn và chỉ khép vào tội phát lưu (đày đi xa). Biết chuyện, quan hành khiển Nguyễn Trãi vào triều kiến và ra lời can gián. Ông cho rằng chứng cớ xác đáng không có mà đã vội kết án Tiệp dư là một việc làm thất đức và ông xin nhà vua cho mình được lo liệu việc này. Thái Tông nghĩ mãi, không còn cách nào hơn nên đành chấp nhận đề nghị của Nguyễn Trãi. Ngay đêm ấy, Nguyễn Thị Lộ (vợ thứ của Nguyễn Trãi) đã bí mật đưa Tiệp ra ẩn náu ở chùa Huy Văn (ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng ngày nay). Tháng 11 năm 1441, nhà vua xuống chiếu lập Bang Cơ làm Hoàng Thái tử. Sau khi Thái Tông mất, Thái tử Bang Cơ lên nối ngôi, lấy hiệu là Nhân Tông, Nguyễn Thị Ngọc Anh trở thành Thái hậu nhiếp chính.

Bản án kết tội Nguyễn Liễu sau khi dâng sớ tâu tội Lương Đăng, Đinh Thắng cũng là người đứng sau. Sau khi các thái giám vào yết kiến vua và khóc lóc, kể lể, nghe vua phán “Ta sẽ giao Liễu sang bên hình quan để hình quan định tội”, Đinh Thắng đã lập tức tới gặp hình quan và gợi ý “Sắp tới nhà vua sẽ ra lệnh cho hình quan định tội của Liễu. Ngài liệu mà xử thế nào cho phải”.

Nguyễn Liễu bị án thích chữ vào mặt và lưu đày đi xa, Nguyễn Trãi đã rất lo lắng và buồn bực. Ông quyết định dâng sớ từ quan về Côn Sơn ở ẩn. Bản sớ dâng lên nhà vua của ông được Đinh Thắng biết. Đinh Thắng chẳng nuối tiếc gì ông nhưng nếu để Nguyễn Trãi về ở ẩn lúc này, cả triều đình sẽ nguyền rủa Thắng nên Thắng quyết định tới gặp Hành Khiển khuyên ông không nên về ở ẩn lúc này. Thuyết phục không được, Thắng đành hậm hực ra về.

Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, vợ của Hành Khiển Nguyễn Trãi là một người phụ nữ xinh đẹp, trẻ trung và rất nổi tiếng văn chương nên rất được vua tín nhiệm, đi đâu ngài cũng cho Thị Lộ theo hầu. Trong một lần vua xa giá về tới vườn vải tại xã Đại Lải, ven sông Thiên Đức, Thị Lộ đã đàm đạo văn chương, uống rượu ngâm thơ cùng vua tới tận đêm khuya. Sau khi nhà vua ngả mình trên long sàn, Ngài yêu cầu các thái giám lui, chỉ riêng Thị Lộ ở lại. Một canh giờ sau Hoàng thượng băng hà trước sự sửng sốt của mọi người. Thị Lộ bị nghi nhiều nhất. Lúc đó nàng bối rối, không biết xử trí thế nào. Các quan kéo tới vây xung quanh long sàn và đôi mắt độc ác đắc thắng của Đinh Thắng nhìn nàng khiến Thị Lộ giật mình khi nhớ lại. Hắn dựng lên một hiện trường giả để vu cáo cho nàng. Quan hành xử ép cung buộc Thị Lộ phải khai người đứng phía sau là Nguyễn Trãi. 12 ngày sau khi nhà vua băng hà, Nguyễn Trãi và gia tộc đã rụng đầu dưới lưỡi đao oan nghiệt. Trước khi chết ông ngửa mặt lên trời than:

– Trời chẳng phù hộ ta. Giờ ta mới hối là đã không nghe lời Thắng và Phúc.

Chính câu nói đó của Nguyễn Trãi khi tới tai Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, bà đã ban cho Thắng đặc ân: mang hết những bí mật từ trước tới nay xuống mồ cùng chén thuốc độc Hoàng hậu “ban tặng”. Đinh Thắng hiểu rõ cái phút giây khủng khiếp cuối cùng đã tới.

Triều đình nghe tin Đinh Thắng chết, sau cái chết của gia tộc Nguyễn Trãi, ai cũng im lặng. Dường như ở trong triều từ xưa tới nay vẫn đang thịnh trị bình yên.

(Còn nữa)

Phương Thảo

Vụ bi hài án vì… lỡ mồm

Chỉ vì một câu nói nhầm, ông Pi đã bị một số người kéo đến phá nhà và bắt nộp phạt cho làng 10 triệu đồng để cúng Yàng, và 15 triệu cho gia đình trong câu nói.

Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai vừa mở phiên tòa phúc thẩm, xét xử và tuyên phạt đối với 3 bị cáo: Kpuil (25 tuổi) 15 tháng tù giam; Rơ Châm Toàn (21 tuổi) 12 tháng tù; Kpuil Broih 12 tháng tù (nhưng được hưởng án treo) vì tội “Hủy hoại tài sản”. Tất cả các bị cáo đều trú tại làng Amo, xã Bờ Ngoong, huyện Chư Sê.
Theo cáo trạng, vào chiều ngày 8/10/2009, nghe thấy có tiếng chiêng báo hiệu một người trong làng đã chết, ông Rah Lan Pi (trú làng Amo) đi theo tiếng chiêng và đến được nhà bà Kpuih Phing. Kpuih Phing chết vì đã tự tử bằng thuốc trừ sâu. Lúc đầu ông Pi cứ ngỡ người chết là bà Khôi (em gái bà Phing), nên khi thấy mặt người chết là bà Phing, ông Pi tỏ thái độ ngạc nhiên và bật thành tiếng với ý tưởng người chết là bà Khôi.
Khi câu nói lỡ lời này của ông Pi đến tai con trai bà Khôi là Ơch, Ơch liền cho rằng ông Pi muốn trù mẹ mình chết. Vì vậy, khi mai táng bà Phing xong, gia đình Ơch liền mời già làng và trưởng thôn đến gặp ông Pi để yêu cầu ông Pi phải xin lỗi và nộp 10 triệu đồng tiền phạt, để mua lễ cúng Yàng theo phong tục.
Trước sự việc trên, ông Pi cũng đã cho rằng mình mắc lỗi nên đồng ý nộp phạt. Thấy ông Pi đồng ý quá dễ dàng, Rơ Châm Toàn và em ruột của Ơch là Kpuil Broih liền đòi ông Pi phải nộp phạt số tiền lên 20 triệu chứ không phải là 10 triệu.
Thấy số tiền trên là ngoài sức lo liệu của mình nên ông Pi không đồng ý, rồi bỏ về. Khi ông Pi về đến nhà được một lúc, thì thấy những người nhà Ơch mang theo gậy gộc và một số đồ vật khác kéo đến nhà ông Pi, họ lao vào đập phá mọi tài sản trong gia đình ông Pi (thiệt hại ước tính chừng 3 triệu đồng).
Chỉ đến khi cơ quan Công an đến bắt giữ những người đập phá thì sự việc mới được dừng lại.
Tưởng rằng mọi việc đã chấm dứt khi có cơ quan Công an vào cuộc, nhưng sau đó, vì quá sợ lệ làng nên một lần nữa ông Pi đã phải nộp phạt vạ số tiền 25 triệu đồng theo yêu cầu của gia đình bà Khôi và hội đồng của làng. 10 triệu dân làng đã dùng mua trâu bò, rượu cúng Yàng, rồi ăn chơi. 15 triệu ông Pi đã phải kiếm đủ để giao cho gia đình bà Khôi sử dụng.
Thiên Thư
Theo dân trí

Án xưa- tích xưa: Cái chết của vị công thần và lòng dạ vua Gia Long

Sau khi giành được quyền nhất thống, một nỗi lo lắng ngày càng lớn trong lòng vua Gia Long (1802 – 1819) rằng: các “công thần khai quốc” sẽ dần lấn át ngôi vua của dòng họ Nguyễn. Gia Long bèn tìm cách triệt tiêu dần những công thần “đáng sợ” ấy đi. Nhưng cái khó là trừ thế nào cho hợp đạo, không bị mang tiếng là xử oan cho các công thần.

Chân dung vua Gia Long

Năm lần bảy lượt kết án nhưng không thành

Nguyễn Văn Thành là vị công thần đầu tiên được đưa vào danh sách cần phải trừ khử của vua Gia Long. Đang làm Tổng trấn Bắc Hà, Nguyễn Văn Thành được vời về kinh để giao cho trọng trách lớn nhất: Chưởng trung quân, đứng ngôi nhất phẩm. Thực chất của việc này là giúp vua có thể dễ bề kiểm soát, kiềm chế ông ta. Nguyễn Văn Thành không hề biết đến mục đích này của vua. Đôi khi ông ta còn cậy quyền vì ỷ vào lòng tin yêu của nhà vua đối với mình, tin rằng nhà vua hết mực cưng chiều nên nhiều khi ăn nói không còn giữ gìn như trước nữa, cách cư xử cũng có phần chưa được khôn khéo. Ý định khép tội chết cho Nguyễn Văn Thành ngày một rõ, vua chỉ cần có cơ hội thật rõ ràng mà thôi.

Thì cơ hội đó đã tới. Con trưởng của Thành là Nguyễn Văn Thuyên đã đỗ Hương cống và tỏ ra là người có tài. Vừa cậy tài, lại vừa có thế cha, Nguyễn Văn Thuyên không khỏi có chút khoa trương kênh kiệu. Bắt chước các bậc quyền quý đời trước, Thuyên cũng chiêu tập môn khách. Bấy giờ Nguyễn Trương Hiệu người Thanh Hóa tự đến cửa nhà Thuyên mong được kết bạn. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa còn có Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Thuận đều là những bậc hiền tài thì ngỏ ý muốn Nguyễn Trương Hiệu đi vời.

Nguyễn Trương Hiệu không những không đi mà còn đến báo với thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hữu Nghi rằng Thuyên “bội nghịch”, lại còn đưa ra bài thơ Thuyên viết cho 2 vị và tố rằng qua bài thơ Thuyên ngỏ ý muốn làm vua.

Bài thơ như sau: (đã dịch qua Hán Việt)

Văn đạo ái châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc địa dục cầu ti
Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác
Thiện tướng phương chi Ký Bắc kỳ
U cốc hữu hương thiên lý viễn
Cao cương minh phượng cửu cao tri
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá  ngã kinh luân chuyển hóa ky

Bài thơ có khẩu khí đế vương rất rõ. Vốn người khôn ngoan, không muốn ra mặt để chuốc oán với Nguyễn Văn Thành, Nghi sai Hiệu đến cáo với tả quân Lê Văn Duyệt – người ngang vai vế lại sẵn có  hiềm khích đối với Thành.

Quả nhiên là Lê Văn Duyệt đem dâng bài thơ đó lên cho vua Gia Long. Không ngờ Gia Long phán: sự trạng vẫn chưa rõ rệt, không nên khép tội Thuyên và hạ lệnh trả bài thơ đó lại cho kẻ cáo giác, xem như chẳng có chuyện gì.

Đâu phải vua muốn che đỡ cho cha con Nguyễn Văn Thành. Chỉ cần dựa vào đây là có thể khép cho Thuyên tội chết. Nhưng Gia Long thừa hiểu Thuyên chỉ là một kẻ ngông cuồng. Hơn thế nữa Gia Long muốn diệt Nguyễn Văn Thành chứ không phải là diệt con hắn. Diệt Văn Thành với kế  này thì cùng  lắm chỉ khép được tội “ không biết dạy con” mà thôi. Như thế sẽ làm cho Thành thêm phòng thân. Hãy cứ để đấy, âu cũng là một cách gia ơn nhằm nuôi thêm sự sơ hở của Thành.

Sang năm 1816, ngòi nổ dường như được châm. Kỳ lục QuảngTrị Nguyễn Duy Hòa vào chầu, được phe chống Thành kích động đã dâng sớ hạch tội Nguyễn Văn Thành. Sớ viết:

“Con Nguyễn Văn Thành âm mưu làm phản, Thành không biết đến cửa khuyết chịu tội  mà còn áo triều mũ triều nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình chi nữa. Huống chi Văn Thành lại là người soạn điều luật, tự tiện bỏ qua tội kết giao cận thị của Trần Hựu. Y là người bậy, cưỡng dâm vợ người nhưng Văn Thành vẫn nhắm mắt làm ngơ. Ông ta kết bè đảng, dối trên lừa dưới, xây dựng mồ mả cha mẹ thì vượt thói phạm nhân, xét đạo của người bề tôi thì đó là tội rất lớn. Nay bệ hạ có thương là người có công nhưng cũng nên lấy phép mà trị, rồi sau lấy ơn mà chu toàn cho, như thế phép nước mới được đúng”.

Nắm được tờ sớ Gia Long có ý mừng, bèn giao ngay xuống cho đình thần bàn bạc, định tội. Nhưng trước đình thần, Nguyễn Văn Thành chỉ nhận tội cử nhầm Trần Hựu. Các tội khác ông ta đều  nêu ra chứng cớ có lý để bác bỏ cả. Và rất khôn ngoan Thành dâng sớ chỉ nhận mỗi tội “nhầm lẫn” của mình, do vậy các quan không ai vạch thêm tội của Thành. Tất cả thấy đúng như Thành tâu.

Vua Gia Long lại thêm một lần nữa thất vọng và rất khéo léo, nhà vua gợi nhớ đến bài thơ phản nghịch của Văn Thuyên. Ý vua là muốn đình thần  kết tội Thuyên thật nặng để từ đó kết tội Thành. Lần này Gia Long không thể không bộc lộ thẳng dụng ý của mình. Ngài dụ trước để vạch hướng đi cho đám bầy tôi : “Ý thơ của Văn Thuyên sao mà tiến bộ thế? Phàm có Lương Vũ để làm vua rồi sau  mới có Tể tướng trong núi chứ? Văn Thuyên là người như thế nào mà muốn được Tể tướng trong núi?”

Ý vua thế nào ai cũng rõ, thế nhưng không có ai dám đứng lên tố cáo Thành theo ý vua. Vua lại bất lực, thở dài rồi bãi triều.

Đến đây Gia Long thấy không thể không khép nhanh vụ án của cha con Nguyễn Văn Thành. Tháng 3, vua triệu bầy tôi đến điện Cần Chánh sách lập thái tử. Gia Long gọi Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức yêu cầu viết : “Lập hoàng tử Hiệu làm thái tử”. Muốn thăm dò đình thần, vua nói thêm “ Ai đồng ý thì ký tên vào”. Ai cũng phải ký tên, duy có Thành không đồng ý. Để triệt phá cái lý “đích tôn thừa trọng” của Nguyễn Văn Thành, vua dẫn việc Thái tổ  nhà Minh vì lấy đích tôn làm trọng, bỏ con lập cháu mà sinh ra tai vạ để làm chứng, tỏ rõ sự sáng suốt của mình.

Tháng 4, Gia Long thu ấn Chưởng trung quân của Thành và bắt  giam Thuyên vào ngục.

Trong ngục tù, Gia Long tìm mọi cách để ép Nguyễn Văn Thuyên phải nhận tội. Với sự ra tay của Tả quân Lê Văn Duyệt  ,cuối cùng Nguyễn Văn Thuyên phải cúi đầu nhận là mình có ý làm phản. Nguyễn Văn Thành nghe tin như sét đánh ngang tai, sợ hãi quá bèn dâng biểu xin nhận tội. Tất nhiên điều này vẫn chưa vừa ý vua. Vua muốn mượn miệng bầy tôi để trừng trị nặng hơn tội trạng của Nguyễn Văn Thành. Tờ biểu của Thành được đưa lên cho các đình thần xem xét. Đình thần luận tội  như sau: “Văn Thuyên mưu làm phản, tội trạng đã rõ ràng. Văn Thành dám che dấu cho con, lấy yêu ngôn tâu bậy, tiến cử người xằng, làm nhiều điều bất pháp như thế, xin xử tội chết”. Ấy vậy nhưng vẫn có một số vị quan to trong triều không đồng ý với bản luận tội ấy. Vậy là cái án chết tạm thời vẫn treo lơ lửng trên đầu Nguyễn Văn Thành. Phải cho đến tháng 5 năm 1827, niên hiệu Gia Long thứ 16 mới khép được Thành vào một vụ án đại nghịch.

Đền thờ Tiền quân Nguyễn Văn Thành tại xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Cái chết của vị công thần và lòng dạ vua Gia Long

15 năm trước đó, khi mới  lên ngôi, để vỗ về dân Bắc Hà vẫn còn hoài vọng nhà Lê, Gia Long đã tìm ra được một người dòng họ Lê là Lê Duy Hoán và phong cho ông ta tước Diên Tự Công. Duy Hoán ở Thanh Hóa đang yên phận thì Đỗ Doanh Hoành từ Hưng Yên vào xin làm môn hạ và xúi Duy Hoán làm phản. Đặng Đình Thạnh được cử làm mưu chủ, Lê Duy Hoán được tôn làm Trinh Nguyên hội chủ, xưng là vua Lê. Hoán sai người về Bắc Thành chiêu mộ quân sĩ. Việc bị phát giác, sự trạng tâu lên, vua Gia Long khép Duy Hoán và bè đảng vào tội chết.

Không hiểu thế nào mà từ hai việc khác nhau, Duy Hoán lại khai Văn Thuyên làm chủ mưu, gửi thư bảo Hoán làm phản. Song Văn Thuyên vẫn đang ở trong ngục thì bảo Hoán thế nào được? Gia Long biết và nói thẳng điều này với các đình thần. Đâu phải vua muốn vạch chỗ sai trái để cho đúng tội trạng. Vua muốn suy rộng hơn nữa kia! Thì đình thần Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức đã theo đúng hướng vua mở. Cả hai đều biện luận rằng: “Bọn kia âm mưu làm phản từ ngày Văn Thành còn làm tổng trấn Bắc Thành chứ không phải lúc tù tội rồi mới gửi thư”. Vài ngày sau, tất cả các đình thần đều quả quyết âm mưu làm phản của cha con Nguyễn Văn Thành đã quá rõ, cần kết tội ngay để răn đe thiên hạ. Gia Long thấy đúng ý mình thì rất vui nhưng vẫn còn giả nhân giả nghĩa: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội, thì phép công của triều đình trẫm không thể làm của riêng được.”

Liền đó Nguyễn Văn Thành cùng các con bị bắt và giam ở nhà ngục của cơ Thị Trung. Đến nơi giam giữ, Thành nói với thống chế Thị Trung Hoàng Công Lý: “Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết không phải là trung”. Những lời cuối cùng này chứng tỏ Nguyễn Văn Thành đã thấu hiểu rõ ông vua mình dựng lên vụ án này rồi, vua bắt ông ta chết thì đằng nào ông ta cũng không thoát được. Và Nguyễn Văn Thành đã uống thuốc độc tự tử.

Sau cái chết không chờ chung cuộc của Nguyễn Văn Thành, vua Gia Long rất giận vì ông ta đã bị phơi bày lòng dạ trước miệng lưỡi thế gian. Ông ta bèn lấp liếm: “VănThành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Vua cho mai táng Nguyễn Văn Thành thật hậu. Vua ban cho 500 quan tiền, cấp trả áo mũ, lại cho thêm 3 cây gấm Thống, 10 tấm vải, 10 tấm lụa để phục vụ cho việc chôn cất,  mặc dù với tội của Thành thì chỉ được táng như kẻ thường dân. Trừ Thuyên ra, các con của Thành đều được tha. Những kẻ còn lại, kể cả mấy viên quan trước đã bênh vực Thành đều bị kết án nặng nhẹ khác nhau. Duy Hoán, Văn Thuyên bị xử lăng trì. Nguyễn Trương Hiệu được thưởng 500 quan tiền vì có tội cáo giác.

Đặng Mát

Theo “Án xưa tích cũ”

An Giang: 9 năm, 8 bản án, 1 Việt kiều Mỹ trắng tay, 1 nông dân đi suốt lúa được Tòa “ưu ái” xử cho khối tài sản tiền tỉ !?

Khi “nén bạc….đâm toạc tình cảm”

Gần 10 năm trôi qua, sau 4 phiên tòa sơ thẩm và 4 phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Sóc Cư (Việt kiều Mỹ) từ một ông chủ nhà hàng ở Mỹ nay chỉ còn lại hai bàn tay trắng do theo đuổi vụ kiện tranh chấp tài sản với vợ chồng người em trai là Huỳnh Sóc Mến và Trịnh Thị Kim Ngươn.

Ông Huỳnh Sóc Cư đang trình bày bức xúc với phóng viên Tạp chí Pháp lý

Năm 1991, trong một lần về thăm quê vì thấy hoàn cảnh gia đình sống trong cơ cực ở làng Bình Thủy (cù lao Năng Gù), nay là ấp Bình Quý, xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, chứng kiến cảnh vợ chồng em trai thứ 6 là Huỳnh Sóc Mến và Trịnh Thị Kim Ngươn hàng ngày phải đi suốt lúa mướn để kiếm tiền sinh nhai, ông Cư xót xa, ray rứt không yên nên quyết định mang tiền về đầu tư kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho anh em trong gia đình, có điều kiện phụng dưỡng cha mẹ chu đáo và đồng thời cũng để sau này hồi hương về VN có một chỗ an nghỉ lúc tuổi già. Khi đó, do không đủ điều kiện đứng tên chủ sở hữu đầu tư kinh doanh tại Việt Nam nên ông Cư đã gửi và mang tiền về nhờ vợ chồng ông Mến đứng tên mua một miếng đất mặt tiền cất nhà và xây dựng cây xăng kinh doanh tại số 52/22 khóm Trung An, phường Mỹ Thới, TP. Long Xuyên, An Giang. Việc mang tiền về VN đưa cho em trai đầu tư được thể hiện ở bằng chứng là tờ Di ngôn ngày 20/7/1997. Trong tờ Di ngôn có ghi rất rõ: “Tất cả tài sản chính yếu trong cơ sở xăng dầu Mỹ Thới  kể cả đất đai, nhà cửa đều là của anh chị ba tôi là Huỳnh Sóc Cư và Nguyễn Thị Tuyết xuất vốn đầu tư xây dựng…vợ chồng tôi chỉ đứng tên trên mặt giấy tờ pháp lý và quản lý thay cho anh chị ba. Mọi sự thay đổi tài sản đều do anh chị ba tôi quyết định”. Do không tin tưởng em chồng, nên bà Tuyết (vợ ông Cư) đã bắt ông Mến làm Hợp đồng vay nợ (giả cách) với số tiền là 200.000USD  nhằm đảm bảo quyền lợi của riêng mình trong phần tài sản chung của 2 vợ chồng. Từ khi bỏ tiền ra đầu tư, vợ chồng ông Mến thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong tờ Di ngôn và báo cáo đầy đủ chi tiêu bằng chứng từ cho ông Cư. Từ khi đầu tư kinh doanh cho đến 04/2002, ông Mến đã đưa cho ông Cư tổng số tiền lãi do kinh doanh xăng dầu là 680.000.000 đồng, tương đương với 118,8 lượng vàng SJC. Cũng chính tờ giấy mà ông Cư có ký tên nhận 680.000.000 đồng này mà vợ chồng ông Mến đã cho rằng đã mua lại tài sản của vợ chồng ông Cư.

Ông Cư tâm sự: “Trong tất cả anh em, tôi yêu thương thằng Mến nhất vì cha mẹ tôi ở chung với vợ chồng nó và vì trong tất cả anh em ở VN chỉ có nó là học đến lớp 12, không thể ngờ rằng chính đứa em trai ông tin tưởng, yêu thương nhất, đã từng cưu mang nay lại vì lòng tham, trở mặt đang tâm chiếm đoạt tài sản mà vợ chồng ông đã cực khổ tạo dựng”. Trong một lần về nước năm 2002, thấy được sự không minh bạch trong số tài sản mà mình đã bỏ tiền ra đầu tư nên ông Cư đã lên tiếng đòi lại tất cả tài sản, kể cả trạm xăng dầu Mỹ Thới. Lúc này ông Mến mới tuyên bố trạm xăng dầu có phần hùn của vợ chồng ông. Quá bất bình vì bị chiếm đoạt tài sản một cách trắng trợn như vậy, ông Cư đành khởi kiện ra tòa.

9 năm – 8 bản án …chưa thấu tình, thiếu lý

Vụ việc tranh chấp kéo dài, đã qua 3 lần xử sơ thẩm, Tòa án Nhân Dân tỉnh An Giang không xác minh làm rõ nguồn vốn, bác đơn khởi kiện của ông Cư. Các phiên xét xử đều nhận định việc ông Mến mua lại tài sản ông Cư là thật, mà không xét đến hình thức, nội dung của tờ xác nhận có phản ánh đầy đủ tính pháp lý và trung thực của một giao dịch mua bán, chuyển giao tài sản lớn như vậy không? Đó là chưa kể với xuất thân là nông dân đi suốt lúa mướn thì ông Mến lấy đâu ra tiền lớn đến như vậy để hùn hạp làm ăn và mua lại tài sản của ông Cư !??? Lần xét xử sơ thẩm thứ 4, Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như 3 lần trước. Không nhận ra điều vô lý, sai trái của cấp Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án tối cao tại TP HCM lần này lại xử y án sơ thẩm ?? và buộc ông Cư phải trả cho ông Mến 118,8 lượng vàng SJC đã nhận. Tòa phúc thẩm không cần xem xét số tiền 680.000.000đ (118,8 lượng SJC) là tiền gì đã khẳng định là tiền mua lại tài sản của ông Cư (dù ông Cư đã trình bày đó là tiền lãi phát sinh do kinh doanh xăng dầu mang lại). Không chấp nhận được sự vô lý đó, Ông Cư đã làm đơn xin kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm. Vụ việc đang được chờ giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 19/4/2011, Văn phòng Chính phủ đã gửi Công văn số 2391/VPCP_KNTN tới Tòa án nhân dân tối cao và ngày 19/5/2011, Ủy ban Tư pháp Quốc hội cũng đã gửi công văn số 4962/UBTP12 tới Chánh án Tòa án NDTC, Viện trưởng Viện KSNDTC yêu cầu xem xét, kiểm tra về trường hợp khiếu nại của ông Huỳnh Sóc Cư, giải quyết đúng theo quy định pháp luật và thông báo kết quả giải quyết đến Ủy ban tư pháp Quốc hội.

Trên thực tế, trường hợp của vợ chồng ông Cư không phải là cá biệt, mà thực tế đã có nhiều Việt Kiều về VN đầu tư kinh doanh, mua bất động sản nhưng chưa thể đứng tên được nên đã tin tưởng anh em ruột thịt, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết nhờ đứng tên quản lý tài sản và bất động sản dùm. Nhưng vì lòng tham, nhiều người đã để tiền bạc thay đổi chính mình, đánh mất đi tất cả tình cảm đẹp đẽ, niềm tin đã dành cho nhau  trước đây. Qua 8 lần xét xử…nay gia đình ông Cư lại đành tiếp tục trông chờ vào sự phán quyết công minh của Tòa án nhân dân tối cao. Mong rằng việc tranh chấp giữa hai anh em ruột ông Cư sẽ sớm được khép lại với một bản án thấu tình, đạt lý.

Nhóm PV Ban bạn đọc VPĐD TCPL tại Tp HCM

%d bloggers like this: