//
archives

Khám phá cuộc sống

This category contains 147 posts

Cuộc sống kinh hoàng trên con sông linh thiêng nhất Ấn Độ

Có lẽ hiếm một nơi nào mà sự ô nhiễm và cuộc sống lại kinh dị như trên dòng sông Hằng nổi tiếng Ấn Độ. Việc hỏa táng thi thể người chết rồi thả trôi sông, hay theo những đám tang truyền thống chỉ gói xác trong tấm vải niệm và thả xuống sông Hằng đã trở thành một nghi lễ linh thiêng của người Ấn Độ. Sau đó, chính trên dòng sông này, người ta tắm rửa, sinh hoạt hàng ngày rất đỗi bình thường, thậm chí họ còn múc nước tại đây để ăn uống.

Sinh hoạt gần một xác chết đang thối rữa

Sông Hằng là con sông quan trọng nhất của tiểu lục địa Ấn Độ. Sông Hằng dài 2.510 km bắt nguồn từ dãy Hymalaya của Bắc Trung Bộ Ấn Độ, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal. Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000 km², một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dân cao nhất thế giới. Tên của sông được đặt theo tên vị nữ thần Hindu Ganga.

Những người dân tộc Hindu, dân tộc chiếm đa số trong dân số Ấn Độ, xem sông Hằng là một dòng sông thiêng. Theo tín ngưỡng Hindu, tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành và nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu của họ rải lên dòng sông. Những người Hindu hành hương đến các thành phố thánh của Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành; Haridwar được tôn sùng vì nó là nơi sông Hằng rời dãy Himalaya; còn Allahabad, nơi dòng sông Saraswati huyền thoại được người ta tin là chảy vào sông Hằng. Cứ 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri.

Chính vì những điều đó, nên tâm nguyện lớn nhất của người Ấn là trong đời người ít nhất được một lần đến tắm tại sông Hằng và khi chết được mang xác về Varanasi, thành phố bên bờ sông Hằng để làm lễ hỏa thiêu rồi thả tro xuống dòng sông ngay tại nơi này. Varanasi mà ngày xưa người Trung Quốc và người Việt Nam gọi là Tha La Nại nằm cách xa New Delhi về phía đông khoảng 500 km và là thành phố cổ có tuổi đời chừng 3.000 năm.

Varanasi ngày nay vẫn còn nguyên khu thành cổ do một vị tiểu vương xây dựng cách đây hàng ngàn năm. Khu thành cổ này nằm dọc bờ tây sông Hằng cùng với một số đền thờ Hindu tạo nên một quần thể kiến trúc độc đáo mang tính cách linh thiêng đối với người theo đạo Hindu. Phải chăng vì lẽ đó mà dù sông Hằng là con sông dài nhất Ấn Độ, chảy qua nhiều vùng lãnh thổ của đất nước này nhưng người Hindu vẫn chỉ muốn về đây tắm hoặc làm lễ hỏa táng rồi thả tro xuống dòng sông mẹ huyền bí ?. Vào ngày lễ, hai bên bờ sông Hằng ở Varanasi không còn chỗ chen chân.

Về sự ô nhiễm nặng của con sông, bắt đầu từ thập niên 1950, dân số và ngành công nghiệp dọc theo các sông Hằng và sông Hugli đã phát triển một cách nhanh chóng, toàn bộ nước thải công nghiệp và dân cư đã được đổ thẳng vào sông với số lượng khổng lồ. Cùng với việc thủy táng trên dòng sông đã gây ô nhiễm dòng nước sông Hằng đến mức việc tắm và uống nước sông Hằng đang trở nên nguy hiểm.

Năm 1986, chính phủ Ấn Độ đã phát động một Kế hoạch Hành động sông Hằng, một chương trình giảm ô nhiễm cho sông Hằng ở 40 thành phố ở các bang Uttar Pradesh, Bihar, và Tây Bengal. Theo kế hoạch này, nước thải được chặn lại đưa qua các nhà máy xử lý. Các lò thiêu điện cũng được xây dựng và nhiều khu vực hai bên bờ sông đã được quy hoạch lại. Sau hơn một nửa thế kỷ triển khai kế hoạch hành động này, mức độ ô nhiễm sông Hằng đã được giảm xuống phần nào nhưng hiện giờ đi trên hay dọc bờ con sông, những xác chết đang thời kỳ thối rữa, hay những xác chết khô trôi dạt bên ven sông vẫn còn nhiều.

Theo ước tính 1/3 số người Ấn Độ chết hàng năm là do sự ô nhiễm và độc hại từ nguồn nước sông Hằng mang lại. Bởi có thời điểm, theo những đám tang truyền thống, có hàng ngàn người không được hỏa táng mà chỉ được gói xác trong tấm vải niệm và thả xuống sông Hằng như một nghi lễ linh thiêng.

Hàng ngàn gia súc chết mỗi năm cũng được ném xuống sông như một tín ngưỡng linh thiêng của người Hindu. Chính những điều này cũng đã góp phần vào việc biến sông Hằng thành một trong số những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới.

Với khoảng 30 triệu gallon chất thải được đổ vào sông Hằng mỗi ngày, con sông thiêng đã biến thành dòng sông đầy rác thải hai bên bờ phá hủy cảnh quan tuyệt đẹp và làm tăng lượng vi khuẩn độc hại trong nước.

Các xét nghiệm gần đây trên mẫu nước thu thập ở thành phố Varanasi cho thấy, lượng vi khuẩn coli đã lên cao 50.000 con/100 ml, cao hơn 10.000 % so với mức tiêu chuẩn an toàn để được tắm của Chính phủ Ấn Độ (Theo thống kê trên sacredland.org).

Kết quả của tình trạng này sẽ dẫn tới một loạt các bệnh gồm dịch tả, viêm gan, bệnh thương hàn hay bệnh lỵ. Theo nhiều chuyên gia, khoảng 80% các vấn đề sức khỏe và 1/3 số người Ấn Độ chết hàng năm là do nước sông Hằng.

Để giải quyết tình trạng trên, người ta dự tính sẽ phải chi ít nhất 1 tỉ USD để giúp Ấn Độ làm sạch sông Hằng. Dự án mới này bao gồm xây dựng hệ thống xử lý nước thải mới, thay mới hệ thống cống, đường ống dẫn nước và một loạt biện pháp khác nhằm cải thiện chất lượng nước tại con sông thiêng này.

Nhung Lê  (Tổng hợp)

Advertisements

Kho báu 230 triệu đô dưới đáy đại dương

Khi tàu SS Gairsoppa bị một tàu ngầm Đức bắn ngư lôi vào năm 1941, nó chìm xuống cùng 200 tấn bạc và trở thành kho kim loại quý có giá trị lớn nhất dưới đáy đại dương.

Xác tàu Gairsoppa chứa lượng bạc trị giá tới 200 triệu USD
Xác tàu Gairsoppa chứa lượng bạc trị giá tới 200 triệu USD.

Odyssey – một công ty thám hiểm đại dương có trụ sở tại bang Florida, Mỹ – vừa thông báo, họ đã phát hiện vị trí của xác tàu SS Gairsoppa ở một nơi cách bờ biển Ireland khoảng 490 km. Vị trí tàu yên nghỉ cách mặt nước 4.700 m.

Những tài liệu chính thức về con tàu cho thấy nó chở khoảng 200 tấn bạc ở dạng đồng xu và thỏi. Giá trị của số bạc đó vào khoảng 230 triệu USD. Đây là lượng kim loại quý có giá trị lớn nhất mà con người từng phát hiện dưới đại dương.

SS Gairsoppa là tên một tàu thương mại của Anh có chiều dài 125 m. Vào tháng 2 – 1941, nó cùng nhiều tàu khác rời Ấn Độ để trở về Anh. Khi đoàn tàu đang di chuyển trên Đại Tây Dương thì một cơn bão xuất hiện. Do nhiên liệu sắp hết, SS Gairsoppa tách khỏi đoàn và tiến về phía Galway, Ireland.

Nhưng SS Gairsoppa không bao giờ tới đích, bởi khi cách bờ biển Ireland khoảng 490 km, nó chìm bởi ngư lôi của một tàu ngầm Đức. Trong số 85 người trên tàu chỉ có một người sống sót.

Do SS Gairsoppa thuộc sở hữu của nước Anh trong Thế chiến II nên Odyssey Marine Exploration đã ký một thỏa thuận về việc trục vớt bạc với chính phủ Anh. Theo thỏa thuận, công ty sẽ được giữ lại 80% lượng bạc mà họ vớt từ xác tàu.

“Chúng tôi đã hoàn thành giai đoạn đầu tiên của dự án, đó là xác định vị trí và danh tính của nó. Giờ đây chúng tôi chuẩn bị tiến hành giai đoạn vớt”, Andrew Craig, người điều hành dự án trục vớt bạc trong tàu SS Gairsoppa, phát biểu.

Craig hy vọng giai đoạn trục vớt sẽ diễn ra vào mùa xuân năm sau.

“May mắn là con tàu nằm dưới đáy đại dương trong tư thế thẳng đứng, với những nắp hầm mở nên thợ lặn có thể chui vào dễ dàng. Vì thế chúng tôi có thể vớt hàng hóa qua các nắp hầm”, Greg Stemm, giám đốc điều hành công ty Odyssey, nói.

Theo Minh Long

VnExpress

Tục dâng hiến trinh tiết kỳ dị

Tại các dân tộc bản địa Bengal Ấn Độ, sau khi trinh nữ dâng hiến cho tù trưởng kiêm thầy tế xong sẽ không được kết hôn. New Zealand, Nicaragua, Nam Mỹ, Brazil cũng có tục lệ này.

Ai Cập cổ có phong tục sùng bái “Kim Ngưu”. “Kim Ngưu” vốn chỉ một loại trâu lông vằn đặc chủng. Truyền thuyết cho rằng loài trâu này chính là hóa thân của bộ phận sinh dục của một vị thần Ai Cập. Phàm là có “Kim Ngưu” ra đời, những thầy tế lễ sẽ nuôi nấng chúng cẩn thận, đợi qua 4 tháng sẽ đưa nó vào “Miếu Kim Ngưu”.

Trong vòng 40 ngày tới miếu Kim Ngưu, đàn ông không được phép vào trong, chỉ có phụ nữ phải khỏa thân vào dâng hiến, những thiếu nữ sẽ lần lượt dâng hiến “phần dưới” cho Kim Ngưu, đây là một phần trách nhiệm tôn giáo của họ.

Tục dâng hiến trinh tiết kỳ dị
Tục dâng hiến trinh tiết kỳ dị


Còn tại Ấn Độ thì tục hiến trinh cũng thật quái dị. Trinh nữ sẽ dâng hiến trinh tiết cho thần thánh được tăng lữ và thầy tế cử hành, bởi vì họ được coi là đại diện của thần thánh. Vua Ấn Độ thời xưa sẽ không tiếp xúc với vương phi trong vòng 3 ngày sau khi kết hôn. Trong 3 ngày này Vương Phi sẽ động phòng với tăng lữ cao nhất.

Ấn Độ còn có một tục lệ hiến trinh khác do tù trưởng, địa chủ nắm quyền. Tại các dân tộc bản địa Bengal Ấn Độ, sau khi trinh nữ phải dâng hiến cho tù trưởng kiêm thầy tế xong sẽ không được kết hôn. New Zealand, Nicaragua, Nam Mỹ, Brazil cũng có tục lệ này.

Tại BullerMontagne (Pháp), hiến trinh lại qua nhiều công đoạn. Đêm đầu tiên sẽ dâng hiến cho chúa Kito, đêm thứ 2 sẽ dâng hiến cho thánh mẫu, đêm thứ 3 lại dâng hiến cho địa chủ, đến đêm thứ 4 mới động phòng cùng tân lang.

Tục dâng hiến trinh tiết kỳ dị
Tục dâng hiến trinh tiết kỳ dị

Tại một bộ lạc Kyu-Geneva của Bồ Đào Nha thì tù trưởng không những được hưởng trọn trinh tiết của cô dâu mà còn yêu cầu được hưởng tiền hồi môn.

Tục hiến trinh của một bộ lạc gần xích đạo của Châu Phi còn ly kỳ hơn. Trong cuốn sách “Hành vi tình dục đen” có ghi chép lại: một bộ lạc gần xích đạo của Châu Phi có một tập tục công khai mua bán trinh tiết của thiếu nữ. Thiếu nữ đến thời kỳ “chín” sẽ bán trinh tiết cho bất cứ ai muốn mua. Hôm đó, toàn bộ thân thể thiếu nữ sẽ bị bó trong quần áo, được thanh niên trai tráng vác lên, sau đó quỳ xuống dưới một chiếc ô, những người xung quanh có thể ngã giá qua đêm với thiếu nữ đó.


Theo BĐVN

Cổng địa ngục ở Uzbekistan

Cổng địa ngục thường được mô tả trong sách vở là nơi có lửa cháy rừng rực với độ nóng khủng khiếp có thể thiêu đốt thành tro bụi mọi thứ rơi xuống đó. Thế nhưng, ở Uzbekistan, quốc gia nằm ở Trung Á, lại có một “cổng địa ngục” (door to hell) thật như thế.

Nằm ở một thị trấn tên Darvaz, thuộc vùng sa mạc Kara Kum, cổng địa ngục này có kích thước khoảng gấp hai lần kích thước của một sân bóng đá (khoảng 1400m2) với độ sâu hơn 100ft (30.48m). Kích thước ban đầu của hố lửa này không lớn đến như vậy cho đến khi xuất hiện sự “can thiệp” của con người vào năm 1975.

Hơn ba mươi năm về trước, trong khi khoan thăm dò tìm khí đốt tự nhiên bằng thiết bị tải trọng lớn, các nhà địa chất học bất ngờ phát hiện ra một khoảng rỗng lớn dưới nền đất nơi máy khoan đang hoạt động. Hốc này rộng đến mức toàn bộ  người, phương tiện và máy móc thiết bị khoan rơi xuống khoảng rỗng này và khí độc lan tỏa khắp ra bay ra từ đây. Lúc này, nhóm thăm dò gồm các chuyên gia, kỹ sư và các công nhân tìm cách thoát ra khỏi hố và bỏ lại máy móc.

Để tránh luống khí độc hại lan tỏa lên bầu trời ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người dân vùng lân cận, các chuyên gia quyết định châm lửa đốt. Đám lửa khổng lồ bùng lên dữ dội giống như ngọn núi lửa trực phun trào và vẫn còn cháy sáng cho đến tận bây giờ dù 36 năm qua và không có dấu hiệu dừng lại và cái tên cổng địa ngục được người dân nơi đây đặt cho hố lửa này từ đó. Đến nay, hiếm có người dám tiếp cận đến gần sát miệng “lò lửa” này vì nhiệt bức xạ xa đến vài trăm mét. Do vậy, cho đến bây giờ, không ai có thể biết được rằng “cổng địa ngục” có kích thước ổn định hay đã mở rộng hơn trước bởi khí bay ra từ lòng đất và bị đốt cháy trực tiếp. Người ta cũng không thể ước lượng được có bao nhiêu mét khối khí đã cháy và còn cháy đến khi nào. Đây cũng chính là lý do khiến không ít người đặt chân đến Uzbekistan phải bỏ công sức lặn lội đến thị trấn nhỏ bé Darvaz để được tận mắt thấy chiếc cổng rực cháy, độc đáo và kỳ bí này.

Có thể nhìn thấy hố lửa khổng lồ từ xa vì nó nằm trong một vùng đất sa mạc cằn cỗi rộng lớn. Khi đêm xuống, hình ảnh này càng rõ nét hơn với một chùm ánh sáng màu vàng hắt lên từ miệng hố sáng rực cả một vùng trời. Trải qua thời gian dài, những cơn mưa lớn cũng không thể nào dập tắt ngọn lửa và chúng vẫn cháy suốt ngày đêm.

Mai Lê
Theo daibieunhandan.vn

Khám phá văn hóa cafe đặc biệt ở Áo

Có dịp đến thủ đô của nước Áo nhất định bạn phải đi uống cà phê. Quán cà phê ở Wien là một trong những truyền thống văn hóa độc đáo hiếm thấy trên thế giới…

Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhiều quán cà phê ở Wien đã là nơi lui tới của giới văn nghệ sĩ và khoa học gia. Nhiều nhà văn đã sáng tác ngay trong quán cà phê, tạo nên dòng văn học mà ngày nay người ta gọi là “dòng văn học cà phê” và những nhà văn đó được gọi là “nhà văn quán cà phê”.

Wien nguyên thủy

Vào quán có thể gọi một ly “Kleiner Brauner”, một ly nâu nhỏ, là loại cà phê đậm đặc tương tự như espresso có thêm kem sữa hoặc dùng thử một ly “Melange” pha nửa cà phê nửa sữa. Món uống “đặc sản” trong quán cà phê Wien là “Einspänner”, một ly cà phê đen lớn, có kem sữa và rắc đường mịn như bột ở phía trên.

Quán cà phê Central

Ly cà phê sẽ được mang ra trên một cái khay bằng bạc có thêm một ly nước lọc, trên đó có một cái muỗng, người phục vụ không hề chào mời dùng thêm bánh ngọt nhưng anh ta sẽ có mặt khi bạn cần thêm một ly nước hoặc khi bạn vừa thốt lên một câu “Xin lỗi!” lịch sự.

Có thể ngồi hằng giờ trong một quán cà phê ở Wien để đọc báo dưới ánh sáng vàng của những chiếc đèn treo trên trần, trong tiếng lách cách của bàn bida, tiếng rì rầm nho nhỏ của những người khách, tiếng kêu xì xì của những chiếc máy pha cà phê và trong mùi hương kín đáo của cà phê, thuốc lá và nước hoa.

Một quán cà phê Wien nguyên thủy phải như vậy, nơi lui tới của những người “cần xã hội để cô đơn”, nơi của những người “phải giết thời gian để đừng bị nó giết chết” như nhà văn, dịch giả Alfred Polgar (1873-1955) đã từng nói. Bàn về quán cà phê Central trong quận 1 của Wien, ông cũng đã từng nói rằng đó là “một thế giới quan mà nội dung thầm kín nhất là không nhìn ra thế giới”.

Tinh hoa Wien

Thật ra thì người ta có thể nhìn được nhiều thứ trong quán Central đã được phục hồi. Gần như không một quán cà phê nào khác ở Wien lại lộng lẫy hơn: trần vòm nhọn cao có bích họa trang trí, cột bằng đá hoa cương, đèn treo sang trọng, băng ghế được bọc vải hồng với nhiều đường nét trang trí, góc ngồi nhỏ với những cửa sổ để quan sát và ở cửa ra vào là bức tượng của nhà văn Peter Altenberg (1859-1919) – người khai địa chỉ của quán cà phê này làm địa chỉ cư ngụ chính thức – bằng giấy bồi.

Tượng nhà văn Peter Altenberg trong quán cà phê Central

Cuối thế kỷ 19, khoảng thời gian được gọi là fin de siècle, cà phê Central là nơi gặp gỡ của giới tinh hoa Wien. Ở đây có đến 250 tờ báo bằng 22 thứ tiếng. Karl Kraus (1874-1936), một trong những nhà văn và nhà báo người Áo nổi tiếng nhất của thế kỷ 20, đã có ý tưởng cho nhiều tiểu luận sắc bén tại đây, nhà văn Franz Kafka (1883-1924) đã thảo luận về triết học cùng người bạn của ông là nhà văn Max Brod (1884-1968) và Leon Trotsky cũng là một người khách đánh cờ quen thuộc, nhưng dưới tên trong khai sinh của ông.

Tất cả những cái đó đã qua lâu lắm rồi, giới văn sĩ thời nay đã chuyển sang quán cà phê Bräunerhof (số 2 Stallburggasse trong quận 1), nơi nhà văn Thomas Bernhard (1931-1989) đã là khách quen thuộc. Đến cà phê Central ngày nay chủ yếu là khách du lịch. Họ gọi to “à” và “ồ” rồi bấm máy ảnh số và chăm chú lật những quyển sách hướng dẫn du lịch thay vì đọc báo.

Số phận quán cà phê Griensteidl ở tại Michaelerplatz đối diện với cung điện hoàng đế cũng vậy. Đây là nơi nhà văn người Áo-Do Thái Theodor Herzl (1860-1904) phác thảo tác phẩm Nhà nước Do Thái nổi tiếng. “Cà phê hoang tưởng” là tên gọi châm biếm thời đó cho cái quán cà phê của nghệ sĩ này, nơi lui tới của Arthur Schnitzler (1862-1931) và Hugo von Hofmannsthal (1874-1929), những nhà văn đại diện cho Wiener Moderne – phong trào văn học hiện đại Wien, cũng như của các nhà soạn nhạc Hugo Wolf (1860-1903) và Arnold Schönberg (1874-1951).

Khi quán cà phê Griensteidl cổ xưa trong dinh Dietrichstei bị giật sập năm 1897, nhà văn Karl Kraus đã than vãn rằng: “Nền văn học của chúng ta đang đối mặt với một thời kỳ vô gia cư, dòng chỉ sản xuất thơ văn đã bị cắt đứt một cách tàn nhẫn”. Nói rồi ông, cũng như nhiều người khác, “dọn nhà” sang quán Central. Bây giờ vào quán Griensteidl mới tái khai trương năm 1990, nhiều du khách đã bị bàn ghế trông có vẻ cũ kỹ đánh lừa. Quán cà phê Museum (số 6 Friedrichstraße thuộc quận 1) cũng vậy.

Khai trương năm 1899, quán này đã là nơi lui tới thường xuyên của các nhà văn Franz Werfel (1890-1945), Robert Musil (1880-1942), Hermann Broch (1886-1951), Georg Trakl (1887-1914) và Elias Canetti (1905-1994), của họa sĩ Gustav Klimt (1862-1918) và nhiều nghệ sĩ khác thuộc nhóm Ly khai Wien, là nhóm đã tạo một phong cách riêng biệt của tân nghệ thuật. Quán được xây lại năm 1930, thời gian gần đây trang trí bên trong đã được phục hồi theo phiên bản nguyên thủy của kiến trúc sư Adolf Loos (1870-1933) nổi tiếng.

Chỉ có điều là thời nay đường nét đơn giản của kiến trúc sư Loos không còn mang tính cách mạng nhiều như ngày xưa nữa, thời mà Hoàng đế Franz Josef đã phải cho đóng ván che kín những cánh cửa sổ của cung điện nhìn xuống Michaelerplatz để không phải nhìn thấy một ngôi nhà do kiến trúc sư Loos xây. Những người khách quen của cà phê Museum thường hay nhớ đến trang bị nội thất mang tính viễn tưởng thời thập niên 1930 của nhà thiết kế và kiến trúc sư Josef Zotti (1882-1953), cả những chiếc ghế ngồi không thoải mái và người phục vụ bẳn tính đến mức đã trở thành huyền thoại nữa.

Nhà Loss, ngôi nhà gây sốc ngay trong trung tâm Wien. Hoàng đế Franz Josef đã cho đóng ván che kín những cửa sổ của cung điện nhìn ra ngôi nhà này và từ đấy cho đến cuối đời không bao giờ dùng lối vào cung điện ở Michaelerplatz nữa để không phải nhìn thấy "căn nhà kinh tởm" này

Chúng đã được mang vào viện bảo tàng năm 2003. Ít ra thì có thể tham quan bàn ghế trong Viện bảo tàng Hofmobilien và người phục vụ cáu gắt thì cũng có ở nhiều nơi khác. Ngày nay, người hoài cổ nên đến Diglas (số 10 đường Wollzeile quận 1), nơi còn có những món đồ ngọt tuyệt diệu nhất của Wien. Trong cà phê Sperl (số 11 Gumpendorfer Straße thuộc quận 6), cũng đã là nơi lui tới của nhiều nghệ sĩ thuộc nhóm Ly khai Wien, gần như tất cả đều như cũ, và việc cấm sử dụng mobile cũng mang lại sự yên tịnh dễ chịu. Thay vào đó người ta có thể lướt web không dây: truyền thống và hiện đại không nhất thiết phải cắn nhau. Cũng cổ xưa tuyệt vời như vậy là cà phê Eiles ở số 2, Josefstädterstraße trong quận 8.

Đứng hàng đầu trong số các quán cà phê huyền thoại của Wien vẫn là Hawelka. Năm 1958 nhà thơ, nhà văn H. C. Artmann (1921-2000) đã gọi cái quán tối tăm đầy khói thuốc lá trong ngõ mang tên Dorotheergasse (quận 1) là “quán cà phê đẹp nhất”. Lúc đó, Hawelka đã có gần 20 năm và được nhiều văn nghệ sĩ ưa thích vì chưa từng sửa chữa lần nào. Và đến tận ngày nay, tất cả đều như ngày xưa với băng ghế đỏ, bàn đá hoa cương, khay mạ nickel…

Quán cà phê Hawelka

Bà Josefine Hawelka đã khéo léo sắp xếp khách ngồi để cho nhiều con tim cô đơn tìm đến với nhau. Cùng với chồng là Leopold Hawelka dẫn dắt quán cà phê suốt 66 năm trời, lúc bà qua đời năm 2005, tất cả các tờ báo tại Wien đều đồng loạt đăng tin này trên trang nhất: Một phần lịch sử văn hóa Wien đã mất.

Cho đến ngày nay, ông chủ quán Leopold vẫn ngồi chào khách đến ngay tại lối ra vào, dù ông đã gần 100 tuổi. Hiện người cháu Amir đang tiếp tục làm loại bánh Buchteln huyền thoại của cố bà chủ Josefine, cũng là người sẽ tiếp nhận quán cà phê này. Tức là du khách vẫn có thể tiếp tục đến đây để tìm “người khỏa thân trong Hawelka”, cho đến nay hình tượng này chỉ có trong bài hát Jo, schau năm 1976 của Georg Danzer (1946-2007) mà thôi.

Phan Ba
Theo Nguoiduatin.vn

%d bloggers like this: