//
archives

Phóng sự điều tra

This category contains 342 posts

Bí ẩn học trò của “Tiên Ông giáng thế” ở Hải Dương

Cách đây 5 năm, trong trào lưu ầm ĩ nổi lên của những người có khả năng đặc biệt, có một người gây chú ý đặc biệt với các nhà khoa học, đó là bà Nguyễn Thị Nghi, mà mọi người thường gọi vui là học trò của “Tiên Ông giáng thế”. Sở dĩ mọi người gọi thế, vì theo lời kể, bà được một ông Tiên giáng trần và dạy cho bà những phép lạ. Là học trò của “Tiên Ông”, nên bà Nghi có đủ các phép thuật thần thông quảng đại, từ bói toán, gọi hồn, phong thủy, truyền năng lượng, đến tìm mộ thất lạc, thậm chí là chữa đủ các loại bệnh, bệnh nào cũng khỏi. Là học trò của Tiên, nên người ta tôn xưng bà là “người giời”.

Thời điểm đó, bà Nguyễn Thị Nghi là “con cưng” của hai cơ quan nghiên cứu khả năng đặc biệt của con người, là Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng (Liên hiệp UIA) và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Hai cơ quan này đều lập các đề tài, dự án nghiên cứu về khả năng đặc biệt của “người giời” Nguyễn Thị Nghi. Các dự án nghiên cứu diễn ra nhiều năm và đến nay vẫn tiếp tục.

Bà Nguyễn Thị Nghi (thứ 2 từ phải sang) được Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người vinh danh vào tháng 3-2011.

Ngày đó, tôi đã được ông Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp UIA kể cho nghe suốt một buổi về khả năng siêu lạ của người giời Nguyễn Thị Nghi. Tôi cũng được tham dự một số buổi tổng kết, hội thảo khoa học, gặp gỡ, trao đổi, và sự có mặt của “người giời” này là trung tâm của sự chú ý.

Vì tiếp xúc khá nhiều lần, tìm hiểu khá kỹ lưỡng, nên tôi thuộc nằm lòng lý lịch trích ngang cũng như những bí ẩn biến một người đàn bà bình thường thành một bà “tiên” này.

Bà Nguyễn Thị Nghi - học trò của "Tiên Ông giáng thế".

Nguyễn Thị Nghi sinh ra và lớn lên ở vùng đất lô nhô núi non, đồng ruộng thuộc “bán đảo” Kinh Môn (Hải Dương). Sinh ra trong gia đình có tới 7 anh em, lại nghèo đói, nên Nghi chỉ được học tới lớp 7. Học xong thì ở nhà làm ruộng cùng bố mẹ. Nghi ít giao tiếp xã hội, là một cô nông dân chân chất, bình thường.

Tòa biệt thự của bà Nghi được xây dựng từ gần 10 năm trước.

Hôn nhân và hạnh phúc của bà Nguyễn Thị Nghi khá đặc biệt. Bà lấy hai lần chồng, thì cả hai chồng đều hy sinh vì Tổ quốc. Bà là vợ của hai liệt sĩ. Người chồng thứ nhất cùng làng, bằng tuổi, sinh năm 1955, hy sinh tại chiến trường miền Nam khi trực tiếp cầm súng chiến đấu. Người chồng thứ 2 đang vận chuyển vũ khí vào Nam thì đổ xe hy sinh. Hai liệt sĩ đã kịp để lại cho bà hai người con, một trai, một gái. Cô con gái vừa ra đời được 15 ngày, thì bà nhận được tin chồng thứ hai hy sinh. Nỗi đau quá lớn, tưởng như không thể vượt qua được.

Dù trời mưa, song vẫn có cả trăm người đến mong được diện kiến "người giời".

Vào năm 1986, bà Nghi tự dưng lăn ra ốm. Trận ốm không rõ nguyên nhân nhưng thập tử nhất sinh, bệnh viện trả về vì hết đường cứu chữa.

Để con nằm nhà chờ chết, cha mẹ không đành lòng, nên ông bà vái tứ phương, nhờ vả các thầy thuốc đông y, thậm chí cả thầy bói, thầy cúng cứu giúp. Nhưng các thầy cao tay cũng chẳng giúp được gì. Suốt mấy tháng trời, bà Nghi nằm bẹp giường chiếu, chỉ uống được chút nước cháo, nước cơm.

Xếp hàng mong được diện kiến "người giời".

Nằm bẹp đến tháng thứ 4, thì cơ thể cũng chẳng tiếp nhận nước cơm nữa, cứ uống vào lại nôn ra sạch sẽ. Khi đó, bà chỉ thèm được uống nước dừa, nước trà và nước giếng. Gia đình đau xót lắm, nhưng cứ lấy những thứ nước đó phục vụ bà, chờ tử thần đón bà đi. Khi đó, cơ thể bà Nghi chỉ còn là bộ xương được bọc da, cân nặng khoảng 20kg, yếu đến nỗi không cử động được nữa.

Không gặp được "người giời" thì bái vọng từ xa.

Theo lời kể của bà Nghi, sang tháng thứ 5, trong lúc đang hấp hối, không rõ có sức mạnh từ đâu tiếp vào người, bà Nghi ngồi bật dậy rồi nhảy phốc một cái vọt lên xà nhà ngay đầu giường cao 2m và bà cứ ngồi trên đó. Chứng kiến cảnh ấy, mọi người vừa ngạc nhiên vừa kinh hãi. Bình thường, đứng trên giường, bà Nghi với tay cũng chẳng tới xà nhà, vì bà vốn vừa thấp vừa bé, thế mà trong hoàn cảnh bệnh tật nằm bẹp mấy tháng, bà lại đột nhiên có khả năng phi thân như trong phim chưởng.

Từ trên xà nhà, bà bảo mọi người gọi cha mẹ đến. Khi cha mẹ đến, bà Nghi yêu cầu cha mẹ phải tìm ngay một ông thầy cao tay ấn nhất vùng đến lập bàn thờ để bà cúng Trời Phật, nếu không, bà sẽ chết ngay.

Nhiều người có vẻ bề ngoài sáng láng, song cũng mê muội tin vào năng lực thần thông của bà Nghi.

Thấy con gái có vẻ vô cùng khác lạ, cha mẹ bà sợ hãi và gật đầu đồng ý ngay. Bà Nghi liền nhảy từ xà nhà xuống mà chẳng hề hấn gì. “Bộ xương di động” lững thững đi lại giường, ngả lưng xuống, rồi bà lại rơi vào tình trạng nằm liệt giường như ban đầu.

Cha mẹ bà Nghi đã mời thầy cúng cao tay đến nhà lập bàn thờ. Bàn thờ lập xong, bà Nghi cảm thấy người dễ chịu hẳn, đứng lên đi lại được, như chẳng còn bệnh tật gì nữa. Hằng đêm, bà ngồi trước bàn thờ tụng kinh niệm Phật.

Tụng kinh được gần tháng, thì đêm nào cũng có một cụ già râu tóc bạc trắng đến đánh thức bà dậy tặng chiếc đĩa và 2 đồng tiền xu. Đêm nào ông già đó cũng bắt bà đọc: “Thiên thần tạo hóa/ Bạch thổ thiên lai”. Đọc xong, ông già lại dạy bà học “chữ Thiên” (chữ của giời, không ai đọc được ngoài “người giời” Nguyễn Thị Nghi – PV). Thời gian học đều đặn từ 12 giờ đến 2 hoặc 3 giờ sáng. Những hôm bà mệt, không muốn dậy, thì bị “Tiên Ông” cấu, véo, đánh rất đau, không chịu nổi, buộc phải dậy học.

Thi nhau kể chuyện về những năng lực thần kỳ của bà Nghi.

Cách dạy của ông già và cách học của bà Nghi cũng cực kỳ đặc biệt, là cách của Thiên đình chứ chẳng phải hạ giới. Khi tĩnh tâm, các “chữ giời” hiện lên trên tường nhà, có cả chữ quốc ngữ phiên dịch nên rất dễ hiểu. Học liền 3 tháng 10 ngày thì bà Nghi thông thạo “chữ Thiên”, chữ nào cũng đọc, cũng viết được.

Trong thời gian học, bà Nghi chỉ ăn rất ít, mỗi bữa 3 muỗng cơm chan nước trắng, rắc thêm muối hột cùng 5 quả ớt. Ông già râu tóc bạc phơ bảo bà phải ăn như thế mới biết thương người nghèo, rồi mới giúp đời được.

Học xong thì ông già râu tóc bạc phơ mới cho biết, ông là Tiên, từ trên trời giáng xuống giúp bà có phép thuật để “cứu nhân độ thế”. Nói rồi, ông biến mất, không quay lại nữa. Lúc đó, bà Nghi mới hiểu mọi nhẽ. Cho đến bây giờ, bà vẫn coi “Tiên Ông” là thầy của mình.

Có khả năng đặc biệt rồi, bà Nghi bắt đầu công cuộc “cứu nhân độ thế”. Những người trong gia đình, làng xóm bị bệnh, chỉ nhìn là bà biết và chữa trị bằng cách thức mà “Tiên Ông” dạy. Chẳng biết bà chữa bệnh có công hiệu hay không, nhưng tin tức về “học trò của Tiên Ông giáng thế” đã lan khắp nơi. Người tứ phương kéo đến mỗi ngày một đông, vái bà như thánh sống. Các nhà khoa học, các GS.TS. lớn ở các trung tâm nghiên cứu khả năng đặc biệt cũng hết lời ca ngợi khả năng đặc biệt của bà Nghi. Thậm chí, các nhà khoa học cũng viết nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, tốn kém không ít tiền của, thì đủ biết người phụ nữ này có ảnh hưởng đặc biệt như thế nào.

Dương Thụy Bình

Theo VTC New

Advertisements

Nụ cười và những đám tang day dứt ở “Vương quốc cô đơn”

Khi mẹ qua đời tại Trung tâm, cả bốn con trai con gái (chưa hề một lần được mẹ khai trong hồ sơ nộp cho nhà dưỡng lão) đi xe hơi riêng đến chịu tang và khóc than mẹ. Nhưng sau khi xong phần an táng, những người con đều hỏi rằng mẹ mình có để lại di chúc gì không. Khi biết mẹ mình đột ngột nhắm mắt không trăng trối điều gì, cả đám con gây gổ với nhau rồi… bỏ đi không một lời từ giã.

Tình bạn ở “Vương quốc cô đơn”

Tuy được gọi bằng cái tên “Vương quốc cô đơn” nhưng ở Trung tâm Bảo trợ Xã hội III (thôn Miêu Nha, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội) không hề thiếu tình bạn, tình người và những thứ tình cảm cao quý này còn được viết nên bằng những câu chuyện cảm động.

Cán bộ Trung tâm Bảo trợ Xã hội III đọc sách, báo cho các cụ nghe

Cụ bà Nguyễn Thị Q. và Nguyễn Thị H. ở khu người già cô đơn là một ví dụ. Cụ Q. đã ở cái tuổi gần đất xa trời,  việc sinh hoạt đi lại chẳng còn dễ dàng, vậy nên ngày ngày, ngoài sự chăm sóc của cán bộ, cụ H. đã phụ giúp chăm sóc cho cụ. Năm ngoái, cụ Q. ốm một trận thập tử nhất sinh, cụ H. đã luôn bên cạnh chăm nom, nâng đỡ. Mỗi khi cụ H. trái gió trở trời, cụ Q. cũng đứng ngồi không yên.

Cụ Quản xúc động chia sẻ: “Người ta nói “trẻ cậy cha, già cậy con”, tụi tôi lấy ai mà cậy?. Chỉ biết cậy nhờ vào sự tận tâm của các anh chị trong Trung tâm với các bà, các ông xung quanh thôi. Bà H. với tôi còn hơn chỗ ruột thịt”.

“Chúng tôi đi đâu cũng có nhau, có chuyện gì cũng cùng nhau tâm sự cứ như thể là một đôi vậy” – cụ H. cũng nói vui.

Còn cụ Ch. và cụ T. như một đôi bạn thân thiết trong lĩnh vực cờ tướng. Mỗi ngày hai cụ ông này lại dành vài tiếng để chơi cờ với nhau. Chúng tôi đến phòng khi hai cụ đang đấu cờ, vừa đi nước cờ cụ Ch. vừa tâm sự:“Thú vui cờ tướng giúp chúng tôi giải sầu, này nhé, hôm trước tôi thắng cụ ấy 3 ván liền mà không gỡ đó, hôm nay có lẽ phải nhường đây”. “Thì ông cứ chơi thẳng tay xem ai thắng”. “Đã vậy tôi không nhường ông nữa” – ông Tĩnh hóm hỉnh. Rồi các cụ lại cười phá lên vui vẻ.

Sống trong Trung tâm với rất nhiều lứa tuổi, nhiều hoàn cảnh khác nhau, tâm tính mỗi người mỗi khác, nhưng các cụ ông, cụ bà vẫn luôn động viên, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Người khỏe thì chăm sóc người yếu trong những lúc ốm đau, bệnh tật. Dù rằng sự chăm sóc cũng chỉ dừng lại ở những công việc nhỏ nhặt như: Lau mặt, lấy nước… song cũng đủ để biết họ khát khao thế nào một bàn tay chăm sóc ở tuổi xế chiều. Hơn lúc nào hết, tình bạn giữa những người già cùng cảnh ngộ ấy đã gắn kết họ gần nhau hơn, giúp họ tìm được hạnh phúc, niềm vui để sống.

Những đám tang day dứt

Ông Bùi Tiến Thành – Giám đốc Trung tâm Bảo trợ Xã hội III nói rằng, ông cảm thấy buồn nhất là mỗi khi có cụ nào qua đời. Theo quy định của Nhà nước, Trung tâm tổ chức mai táng đàng hoàng, nhưng khi đưa tang thì day dứt lắm… Thường thì đám tang chỉ có nhân viên của Trung tâm và những người bạn già tiễn đưa, ít thấy con cái vào đưa tang. Thế nhưng cũng có những đám tang đông người đến bất ngờ. Ô tô lớn, nhỏ ùn ùn dừng trước cổng Trung tâm, còn đông hơn cả đám tang ở dưới phố.

Nhiều nhân viên Trung tâm cứ nhớ mãi câu chuyện trước đây có hai người đàn ông trung niên thuê xe ôm đưa một ông lão đau yếu đến Trung tâm. Họ bảo, mình là người trong thôn thấy “ông già này không còn người thân, không ai chăm sóc” nên mủi lòng đưa ông đến Trung tâm nhờ giúp đỡ. Mãi cho đến khi ông lão qua đời, hai người đàn ông kia mới xuất hiện trở lại thắp một nén nhang rồi bỏ đi. Một người họ hàng xa với ông cụ đến dự đám tang cho biết đó là hai người con trai ruột của cụ. Vì đùn đẩy trách nhiệm nuôi bố nên cuối cùng họ thống nhất “phương án” đưa bố mình vào Trung tâm nuôi dưỡng người già.

Cách đây không lâu, Trung tâm Bảo trợ Xã hội III tổ chức đám tang cho cụ bà N.T.A., 89 tuổi. Gần chục năm sống trong Trung tâm, cụ A. đều cho biết mình góa bụa, không có con cái. Ngày chuẩn bị chôn cất cụ, có đôi nam nữ trông rất giàu có, sang trọng đến xin đưa tang. Mọi người hỏi thăm thì họ không nói gì, đến khi quan tài hạ huyệt chợt người đàn ông bật khóc:“Mẹ ơi, hai anh em con có tội lớn với mẹ lắm. Chúng con đã không lo lắng, nuôi dưỡng mẹ những ngày cuối đời. Chỉ vì nghe lời chồng, lời vợ mà đuổi mẹ ra đường. Chúng con là những đứa con bất hiếu”.

“Nhưng như thế vẫn còn đỡ tủi hơn câu chuyện của cụ bà S.” – ông Thành cho biết. Cụ S. sống ở Trung tâm rất lâu, hồ sơ cụ không cho biết còn con cái ngoài đời. Vậy mà khi cụ qua đời, cùng lúc cả bốn con trai con gái đi xe hơi riêng đến chịu tang và khóc than mẹ. Người nào cũng tỏ ra hối hận vì không được nhìn mẹ giây phút cuối, họ giành nhau xin phép Trung tâm đưa mẹ về chôn cất. Nhưng sau khi xong phần an táng, cả đàn con đều quay trở lại Trung tâm và hỏi rằng mẹ mình có để lại di chúc gì không. Khi biết bà cụ đột ngột nhắm mắt không trăng trối điều gì, cả đám con gây gổ với nhau rồi bỏ đi không một lời từ giã.

Ông Bùi Tiến Thành – Phó giám đốc Trung tâm Bảo trợ Xã hội III (thôn Miêu Nha, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội) cho biết: Trung tâm hiện có 96 cụ được sắp xếp thành 2 khu dành cho cụ ông và cụ bà riêng biệt. Hai cụ một phòng để có người chuyện trò, chăm sóc nhau lúc ốm đau, bệnh tật.

Vân Sam

Theo PLVN

Thủ tướng yêu cầu làm rõ lỗ lãi trong kinh doanh xăng dầu

Bộ Tài chính – Công Thương cần phối hợp chặt chẽ và chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát việc điều chỉnh giá của doanh nghiệp xăng dầu; đồng thời công khai yếu tố hình thành giá và việc lỗ lãi của các nhà nhập khẩu.

Sẽ minh bạch chuyện lỗ lãi trong kinh doanh xăng dầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Đó là ý kiến kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp Chính phủ ngày 26/9, sau gần một tuần xảy ra cuộc tranh luận gay gắt giữa lãnh đạo 2 bộ Tài chính – Công Thương. Tại cuộc họp này, các cơ quan chức năng cũng báo cáo Thủ tướng việc thực hiện Nghị định 84 về kinh doanh xăng dầu, sau 2 năm có hiệu lực.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, các hoạt động điều hành kinh doanh xăng dầu cần nhất quán từng bước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Theo đó, các doanh nghiệp được quyền tự quyết giá bán lẻ xăng dầu khi giá thế giới biến động dưới 7%. Còn khi giá biến động tăng trên 7%, Liên bộ Tài chính – Công Thương sẽ xem xét các mức tăng mà doanh nghiệp kiến nghị để quyết định giá bán…

Thủ tướng cũng yêu cầu các đơn vị chức năng công bố các yếu tố hình thành giá, chi phí và kết quả kinh doanh, các con số lỗ lãi của doanh nghiệp. Các số liệu này cần được công bố công khai và rõ ràng để đông đảo người tiêu dùng được biết.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng chỉ đạo 2 bộ Tài chính – Công Thương phối hợp chặt chẽ với nhau, đồng thời chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc điều chỉnh giá của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, công bố công khai phương án giá được áp dụng theo đúng quy định. Các doanh nghiệp khi điều chỉnh giá bán lẻ cũng cần thực đúng Nghị định 84 trên cơ sở bám sát diễn biến của thị trường thế giới.

Các đơn vị chức năng, cơ quan có thẩm quyền cần thường xuyên phối hợp kiểm soát giá xăng dầu. Đồng thời chủ động xử lý các khó khăn, vướng mắc và những vấn đề phát sinh. Trong trường hợp vượt thẩm quyền cần báo cáo, kiến nghị Thủ tướng xử lý kịp thời, không để thị trường biến động xấu và quyền lợi tiêu dùng bị ảnh hưởng.

Những bất cập trong quản lý, điều hành giá xăng dầu được dư luận xôn xao từ nhiều tháng trước và lên đến cao trào khi Bộ Tài chính tổ chức đối thoại trực tiếp có sự góp mặt của các bộ ngành, doanh nghiệp, chuyên gia và báo chí. Cuộc họp mục đích ban đầu là để trưng cầu ý kiến sao cho việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu được tốt hơn, nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trên cơ sở gỡ khó cho doanh nghiệp. Thế nhưng, cuộc họp đã biến thành buổi tranh luận khá gay gắt giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp và chính giữa các nhà hoạch định chính sách với nhau.

Hồng Anh

Theo vnexpress

Treo thân vách núi…trồng na !

Như những chiến sĩ đặc nhiệm đang tập luyện trên vách núi, cũng rất giống những nhà thám hiểm phương Tây đang chinh phục đỉnh cao…, người dân các huyện Chi Lăng, Hữu Lũng cũng treo thân nơi vách núi như vậy nhưng là để họ… trồng na. Không quần áo bảo hộ, không dây bảo hiểm, chỉ với đôi tay trần thô cứng nhưng những người nông dân vẫn đang trèo núi, tìm kiếm một kẽ hở, một nơi nào có đất để giắt vào đó một vài gốc na. Chứng kiến cảnh họ leo trèo trên dãy núi, nhiều người không thoát khỏi “ám ảnh” bởi suy nghĩ: Họ đang trèo núi đá để làm kinh tế, hay đang đùa giỡn với tính mạng…?!

Một góc rừng na cùng những sợi dây ròng rọc

Thân treo vách núi

Na dai là đặc sản của Lạng Sơn, song ít ai biết rằng, để có một quả na thơm, dai, ngọt như vậy người trồng na phải trả cái giá như thế nào. Theo chân người trồng na, chúng tôi tìm đến vùng núi đá Chi Lăng, Hữu Lũng, Đồng Mỏ…của Lạng Sơn, cùng trèo lên vách núi cao để tìm đáp án cho những khúc mắc trên. Bởi cạnh đá sắc nhọn nên những người trèo núi phải chấp nhận đôi tay bị xước, chảy máu, đau buốt, còn đôi chân thì in hằn những vết thương bầm tím. Lại thêm những tảng đá gập ghềnh, nhọn hoắt nên mất khá nhiều thời gian chúng tôi mới lên được lưng chừng núi.

Với địa hình núi đá như vậy, mà người ta vẫn treo thân, bám trụ, làm kinh tế, đó là điều tuyệt diệu vô cùng. Anh Lành Văn Khiêm, một người gắn bó với công việc trồng na cho biết: Vùng Chi Lăng, Hữu Lũng trồng na được hơn 10 năm nay rồi. Đến mùa là mọi người cứ bám vào vách đá mà trèo lên cao… trồng na. “Núi đá đứng thẳng theo nấc thang nên trên lưng chừng mỗi ngọn núi lại có một chỗ bằng, nếu rộng thì cũng trồng được khoảng 10 – 20 gốc na. Còn ở mỗi kẽ đá người ta lại cố gắng giắt vào đó một vài gốc, nếu na sống được thì tốt, bằng không thì chịu thua, trên núi đá này “tấc đất” là “tấc vàng”. Chỉ cần anh chịu khó thì sẽ rất ứng nghiệm với câu nói “bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, anh Khiêm vui vẻ giới thiệu.

Theo quan sát của chúng tôi, đa phần vách núi này dựng đứng tới trên 85 độ, nên việc trèo lên núi trồng na đã khó, vận chuyển na xuống lại càng khó hơn. Mỗi dãy núi lại có nhiều ngọn khác nhau, người ta phải gánh na từ những ngọn núi cao xuống nấc đầu tiên mới có thể dùng ròng rọc đưa xuống. “Đoạn đường gánh na là một chặng đường phó mặc cho số phận, bởi nếu trượt chân thì hậu quả khó lường. Đi một mình cũng phải bấu víu vào cạnh đá, rễ cây, bây giờ phải gánh na nữa thì khó khăn trăm đường. Trong những ngày nắng thì không sao, chứ ngày mưa thì oái oăm lắm. Có những cạnh đá rêu mọc nhiều nên rất trơn, chỉ cần có hạt mưa nhẹ lấm thấm là như người bôi mỡ ấy. Nhưng na chín rộ, không thu hoạch kịp, để chín rụng thì tiếc, mà trèo núi đưa na xuống cũng thấy nguy hiểm vô cùng”, anh Khiêm chia sẻ.

Được biết, càng lên cao thì na càng tốt, quả to, mắt đều và đẹp hơn rất nhiều so với ở dưới. Vì lẽ này nên ai cũng đua nhau bám vào đá, trèo lên cao, có người trèo lên đỉnh núi trồng được hàng nghìn gốc (tương đương với 1ha). Trên núi đá cao, chủ yếu có cây bụi, khi cây chết đi hóa thành một lớp mùn đọng lại tại các kẽ đá, các chất mùn này giàu vi khoáng với hàm lượng kali cao. Sau mỗi cơn mưa, nước cũng đọng lại ở các kẽ đá đó, giữ ẩm cho chất mùn, điều kiện này là môi trường thích hợp cho na bám trụ.

Công việc hàng năm là trèo núi để “khai khẩn đất hoang”, mang cây na giống lên núi, đưa phân bón lên chăm sóc, tuốt lá, tỉa cành…rồi cuối cùng là lên núi thu hoạch na chín. Như vậy, mỗi lần trèo núi, người ta đều mang bên mình những vật dụng, đồ đạc khá nặng nên mức độ nguy hiểm càng cao gấp bội. Đó cũng là điều đáng khâm phục ở những con người lao động nơi đây, bất chấp hiểm nguy, treo thân nơi vách núi cao để làm kinh tế. Song bên cạnh thành quả họ đã làm được, cũng có không ít những vụ tai nạn đau lòng, kèm theo những hệ lụy đáng buồn.

Mưu sinh nhưng đùa với tử thần …!?

Mỗi lần trèo lên núi người ta lại canh cánh trong lòng trăm mối lo tai nạn, bởi mỗi lần trèo núi là mỗi lần bị đau, và vẫn còn đó những giọt máu theo dấu chân người ở lại.

Theo chân người nông dân trồng na, chúng tôi được dẫn đến một cái hẻm sâu. Chưa hết thắc mắc thì anh Khiêm giải thích luôn, “Đây là chỗ mà hai năm trước có người rơi xuống đó bị gãy chân. Nhìn đơn giản vậy thôi nhưng khi ngã xuống thì không nói trước được điều gì, nếu ngã xuống đất thì êm, còn ở đây là chẹt núi đá vôi. Lúc anh bạn tôi rơi xuống đây, tôi không khỏi hoang mang, loay hoay mãi mới đưa được anh ấy lên khỏi miệng “tử thần”. Lúc đó, một tay tôi phải bám vào vách núi, còn một tay dìu đỡ bạn, có lúc cái chân bị gãy va quyệt vào mỏm đá anh ấy lại kêu lên. Mất mấy tiếng mới đưa được anh ấy xuống chân núi, xuống đến nơi bản thân tôi cũng kiệt sức, cả hai gục xuốn đất rồi thiếp đi, đến lúc người nhà tìm đến gọi dậy mới tỉnh. Bây giờ nghĩ lại thấy ghê ghê, mình cũng không ngờ rằng mình có thể rơi vào hoàn cảnh như thế”.

Nhiều người leo núi tâm niệm, “mỗi người mỗi số phận, may nhờ xui chịu”, vì vậy họ làm liều “nhắm mắt đưa chân” . Tiếp tục trèo lên cao, chúng tôi gặp rất nhiều người đang thu hoạch na, họ vui vẻ kể về công việc của mình. Dù rằng mỗi gia đình hằng năm thu hoạch cũng được trên 20 triệu, có hộ đã “phất lên” từ việc trồng na. Nhưng cũng thật đáng buồn khi đã có không ít hệ lụy xoay quanh gốc na. Khi nói về những tai nạn lao động xẩy ra trên núi thì dường như trên khuôn mặt của mỗi người có một chút gì đó gợi buồn. Anh Nguyễn Đức Sự vừa lau mồ hôi vừa cho biết: “Năm 2004, vợ tôi cũng bị ngã vỡ đầu do trèo núi trồng na. Số khổ, tưởng lên núi may mắn sẽ bình an vô sự, thế nhưng có ai ngờ đâu. Đôi tay bà ấy bám chặt vào mỏm đá mỏng, nhưng chẳng may mỏm đá đó bị vỡ khiến bà ngã ra phía sau đập đầu vào một tảng đá nằm dưới. Xem như số phận đã định vậy rồi, dẫu có cẩn thận thì cũng không tránh khỏi, biết trèo lên núi trồng na thì phải biết chấp nhận”, anh Sự ngậm ngùi.

Giữa việc mưu sinh và chấp nhận nguy hiểm, không khiến những người leo núi phải phân vân, bởi na là cây trồng chủ đạo, hơn nữa có trồng na thì họ mới thoát khỏi nghèo đói. Từ những vụ tai nạn đó, nhiều người đã đặt ra câu hỏi “Lên núi trồng na là một cách thoát nghèo hay là lên núi để tìm đến một bi kịch cho số phận, và lên núi làm kinh tế hay lên núi để thách thức, đùa giỡn với tính mạng”. Một khi gắn bó với cây na, gặp thuận lợi thì cũng nhanh khấm khá, và ngược lại cũng không ít trường hợp máu chảy, cũng có người kết thúc số phận của mình ngay trên vách núi, rừng  na.

Đặt giỏ na xuống tảng đá trên lưng chừng núi, chị Thảo vừa phe phẩy cái mũ, vừa lau mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt đen sạm, vừa tâm sự: “Leo lên núi biết là nguy hiểm, nhưng cũng chẳng biết cách nào, đói thì phải làm liều. Na được giá thì cũng chỉ khoảng 40 nghìn/ 1kg  nhưng nếu ngã thì cái giá phải trả là quá đắt. Như bạn của tôi đây, sinh ra và lớn lên tại vùng núi đá này, trèo lên núi không biết bao nhiêu lần, có nhiều kinh nghiệm để không bị sảy chân, vậy mà vẫn bị tai nạn”. Tai nạn xẩy ra tại một cái vực sâu như hàm răng cá sấu, có cạnh nhọn hoắt, phải dùng dây đu mình mới xuống vực được. Hôm đó vào khoảng 4h chiều, khi đang gánh na xuống núi thì nghe tiếng “ối”, rồi không thấy anh Tuấn đâu. Mọi người hốt hoảng, quẳng gánh na xuống, chạy lại thì thấy anh nằm kẹt sâu dưới kẽ đá, máu chảy dòng xuống, ai nhìn thấy cũng xót xa. Trước cảnh này không ai đứng trụ vững được nữa, chân tay run lên bần bật. Chúng tôi phải nắm tay nhau xuống vực đá, đưa thi thể anh Tuấn lên. Trước sự ra đi đột ngột của Tuấn, mọi người không khỏi nhói lòng, ngán ngẫm cho số phận.

Nói đến bảo hộ lao động, bảo hiểm thân thể…, hầu như những người lao động trèo núi đều không có. Bởi vậy, mỗi khi trong nhà có người trèo núi là nhiều người ở nhà lại nơm nớp lo lắng. Không ai lường trước được điều gì sẽ xẩy ra cũng như không ai dám chắc hôm nay trèo núi ai sẽ an toàn trở về. Đến đây thì câu trả lời đã rõ, cheo leo vách núi trồng na cũng như đặt cược tính mạng trong một canh bạc, một khi số phận con người đã vào cuộc chơi, đã trèo lên núi đá thì chỉ có cách duy nhất là chờ đợi sự may mắn từ số phận.

Những vụ tai nạn do trèo núi đã không còn xa lạ với người dân nơi đây. Hầu như ai trèo núi cũng phải nhỏ những giọt máu của mình trên đá, có điều là ít hay nhiều mà thôi.  Và tình trạng bất chấp nguy hiểm, trèo lên núi đá trồng na và những vụ tai nạn thương tâm vẫn đang tiếp diễn hàng ngày trên dãy núi đá cao này.

Nguyễn Nghĩa

Việt Nam muốn tăng hợp tác hơn nữa với Malaysia

Theo phóng viên tại Malaysia, nhân dịp sang thăm chính thức Malaysia từ ngày 28 đến 30/9 theo lời mời của Quốc vương nước chủ nhà Tuanku Mizan Zainal Billah Shah, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dành cho Hãng thông tấn Bernama của Malaysia cuộc trả lời phỏng vấn.

Chủ tịch nước khẳng định chuyến thăm cấp nhà nước tới Malaysia của Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ góp phần đưa quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới, thực chất hơn và hiệu quả hơn, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác trong khu vực và trên thế giới.

Phát biểu về quan hệ giữa Việt Nam và Malaysia, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước đang phát triển tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh-quốc phòng đến kinh tế-thương mại, đầu tư, lao động và văn hóa. Chuyến thăm thể hiện rõ mong muốn của các nhà lãnh đạo và nhân dân Việt Nam trong việc củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị láng giềng, hợp tác nhiều mặt với Malaysia trong các lĩnh vực cùng quan tâm cũng như trên các diễn đàn khu vực và thế giới, qua đó đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau gần 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ giữa hai nước không ngừng được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp và ngày càng phát triển toàn diện, tốt đẹp. Các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước đã tiến hành nhiều chuyến thăm lẫn nhau, góp phần xây dựng quan hệ gắn bó không chỉ trong lĩnh vực chính trị, mà còn trong hợp tác kinh tế.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ hy vọng qua cuộc hội kiến với Quốc vương Tuanku Mizan Zainal Billah Shah cũng như các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo cấp cao của Malaysia, hai bên sẽ tiếp tục đề ra những phương hướng hợp tác lớn cho quan hệ hai nước trong thời gian tới, đặc biệt là về kinh tế, thương mại và đầu tư.

Về quan hệ kinh tế và các lĩnh vực khác, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết Malaysia hiện là đối tác lớn thứ 9, nhà đầu tư lớn thứ 5 và là thị trường lớn thứ ba của Việt Nam về hợp tác lao động. Hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực khác như an ninh, quốc phòng, giáo dục-đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch, dầu khí… cũng được hai bên tích cực thúc đẩy và đã đạt được những kết quả khích lệ. Tuy nhiên, hai nước vẫn chưa khai thác hết các tiềm năng và thế mạnh hợp tác.

Chủ tịch nước bày tỏ hy vọng trong thời gian tới, hai bên cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn và các cuộc tiếp xúc cấp cao; thúc đẩy giao lưu giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp và người dân; đồng thời tiếp tục tăng cường các biện pháp xúc tiến đầu tư và thương mại để tiến tới cân bằng cán cân thương mại hai chiều.

Chủ tịch nước cho rằng Hội Hữu nghị Việt Nam-Malaysia và Hội Hữu nghị Malaysia-Việt Nam tại mỗi nước là nền tảng vững chắc để hai nước thúc đẩy và tăng cường hơn nữa giao lưu nhân dân. Theo Chủ tịch nước, trong thời gian tới, hai bên cũng cần đẩy mạnh hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, chống khủng bố và phối hợp tuần tra chung trên biển.

Bên cạnh đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng bày tỏ mong muốn Malaysia sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại Malaysia; đồng thời cho biết sẽ tham dự Diễn đàn doanh nghiệp và gặp gỡ lãnh đạo một số tập đoàn hàng đầu của Malaysia để lắng nghe những nguyện vọng và đề xuất hợp tác của họ đối với thị trường Việt Nam. Chủ tịch nước khẳng định chính sách của Nhà nước Việt Nam là luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Malaysia đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của hai nước từ nay đến năm 2020, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh hai bên có nhiều điểm tương đồng và bài học, kinh nghiệm quý báu có thể chia sẻ cho nhau. Hai nước cùng nhắm tới mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội ổn định, công bằng, văn minh. Việt Nam và Malaysia đều có những thế mạnh riêng mà hai bên có thể mở rộng hợp tác, hỗ trợ cho nhau, qua đó góp phần mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực.

Cũng theo Chủ tịch nước, Việt Nam và Malaysia đều là thành viên ASEAN nên có thể giúp đỡ nhau thúc đẩy đoàn kết, liên kết ASEAN, hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015./.

Theo TTXVN/Vietnam+
%d bloggers like this: