//
archives

Thời luận

This category contains 116 posts

Lê Thánh Tông cấm quan lại tơ hào “nhà công vụ”

Vua ban lệnh khi chuyển đi nơi khác, các quan không được lấy đồ đạc của nhà công mang theo, nhà công phải được trông coi chờ quan mới đến dùng.

Lý Thái Tông có 4 chàng rể người dân tộc thiểu số

Là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc sống gắn bó, đoàn kết, trải hàng ngàn năm lịch sử cùng chung sức xây dựng và bảo vệ đất nước, do đó các chính quyền Việt Nam từ xưa rất coi trọng vấn đề dân tộc.

Thời nhà Lý, kế thừa chính sách của các triều đại trước, đối với vùng núi rừng xa xôi, nơi cư trú của các dân tộc ít người, Lý Thái Tổ vẫn áp dụng chính sách “cơ mi” (ràng buộc lỏng lẻo).

Ngoài ra để tăng cường và đẩy mạnh mối quan hệ, liên kết; bên cạnh việc phong chức tước, quyền hạn; ban thưởng tiền bạc, triều Lý còn thông qua các cuộc hôn nhân, gả công chúa cho các tù trưởng lớn có thế lực để qua vai trò của họ tập hợp cư dân thành khối thống nhất quanh nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.

Trong số các hoàng đế của triều đại này, Lý Thái Tông là vị vua gả nhiều con gái cho các tù trưởng, thủ lĩnh người dân tộc nhất. Tháng 3 năm Kỷ Tị (1029) vua gả công chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái, châu mục châu Lạng (nay là Lạng Sơn). Năm Bính Tý (1036) gả công chúa Kim Thành cho châu mục châu Phong (nay thuộc Vĩnh Phúc, Phú Thọ) là Lê Thuận Tông; gả công chúa Trường Ninh cho châu mục châu Thượng Oai (nay thuộc Sơn Tây, Hà Tây) là Hà Thiện Lãm; gả công chúa Ngọc Kiều cho châu mục châu Chân Đăng (nay thuộc Vĩnh Phúc, Phú Thọ và 1 phần Sơn Tây).

Lê Thánh Tông quy định việc sử dụng “nhà công vụ”

Lê Thánh Tông

Nhà công vụ hiểu một cách đơn giản là nhà ở thuộc tài sản công được dành cho quan chức (và gia đình họ) sử dụng trong thời gian nhất định khi đảm nhiệm một vị trí cụ thể tại một địa phương. Đến lúc không còn làm quan hoặc được chuyển đổi đi nhận vị trí khác thì người đó phải trả lại nhà công vụ để bố trí cho người mới.

Tuy nhiên vẫn có những người muốn biến công thành tư. Cách đây 500 trăm năm, hoàng đế Lê Thánh Tông để ý việc này, và đưa ra các cách thức xử lý cụ thể, ông trở thành nguyên thủ đầu tiên quy định chế độ sử dụng “nhà công vụ” và tài sản công.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, tháng 4 năm Bính Tuất (1466), vua ban lệnh “cấm các quan đổi đi chỗ khác không được lấy các thứ đồ dùng ở nhà công”. Đến tháng 2 năm Canh Tuất (1490) Lê Thánh Tông “định lệ quan đổi đi nơi khác phải giao lại nhà công. Từ nay trở đi, quan các nha môn nào đổi thăng đi, về nghỉ để tang hay ốm chết…thì chỗ nhà ở và các đồ vật giao cho quan lại sai người coi giữ, đợi khi quan mới đến dùng”.

Lê Thần Tông chấm đỗ người không làm hết bài thi

Trong thi cử Nho học thời xưa có nhiều quy định rất chặt chẽ, khắt khe, bài thi nếu chỉ phạm một chữ húy thì dù có viết hay đến mấy cũng bị đánh trượt, hoặc dù có làm hết bài nhưng chưa chắc đã vượt nổi tài thơ văn của những người cùng thi khác. Ấy thế mà một thí sinh vào thi, làm không hết bài vẫn được chấm đỗ, không những thế còn là người đỗ đầu khoa thi, đó là câu chuyện của Nguyễn Minh Triết quê ở xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, xứ Hải Dương (nay thuộc xã An Lạc, huyện Chí Linh, Hải Dương).

Khoa thi Hội năm Tân Mùi (1631) đời Lê Thần Tông, đề thi gồm 2 phần: Phần đề phú có nội dung “Lấy đức làm chính trị”, phần đề thơ là “Tiêu Hà đứng đầu”; tất cả gồm 12 mục. Lọt vào kỳ thi Hội chỉ có 60 người, do thời gian ngắn mà đề mục lại nhiều nên 59 người đều làm sơ lược, tính toán miễn sao cho đầy đủ 12 mục.

Riêng Nguyễn Minh Triết thì lần lượt làm từng mục, dẫn giải cụ thể, biện luận rõ ràng vì thế khi hết giờ, phải nộp bài thì ông mới chỉ xong được 4 mục. Vua Lê Thần Tông xem bài thi thấy ý tứ rất hay bèn hỏi các khảo quan và nữ học quan Nguyễn Thị Duệ, mọi người nói nếu chấm thì rất xứng đỗ đầu. Cuối cùng vua truyền bảo: “Thơ chỉ hay một câu, phú chỉ hay một đoạn mà còn được, huống chi bốn mục. Bài nếu đáng đỗ đầu thì cứ để đỗ đầu”.

Vậy là dù bài thi không hoàn thiện nhưng thí sinh Nguyễn Minh Triết lại được chấm đỗ Đình nguyên Thám hoa. Ông chính là người cao tuổi thứ nhì trong số gần 80 vị đỗ Thám hoa trong lịch sử nước ta.

Quảng trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), thí sinh phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài

Lê Ý Tông ban hành âm nhạc trong các ngày đại lễ

Âm nhạc được sử dụng trong các nghi lễ cung đình từ rất lâu nhưng còn đơn giản, chưa thống nhất, chưa phân định cụ thể đối với từng nghi thức. Đến đời Lê Ý Tông (1735-1740), lần đầu tiên âm nhạc được quy định sử dụng với các tiết tấu, thanh điệu khác nhau ở những ngày đại lễ khác nhau.

Sách Lê triều hội điển cho hay: “Theo pháp điển hồi quốc sơ, chỉ làm lễ rước và lạy mừng, nhạc chương chưa đủ. Vĩnh Hựu năm thứ nhất (1736) mới kính vâng ngự chế, báo rõ bá quan rằng: Các lễ Diên Thọ, Chính Đản, Yết Giao, Tế Cờ, xét về nhiều mặt được coi là đại lễ. Hợp các nhạc chương lại để cùng diễn tấu. Như vậy ngước lên thấy tình văn tuyên xướng (được phô bày thỏa thích), tiết tấu ung dung. Gây dựng được cái tự cổ chưa từng có. Thánh đức cùng thiên địa đại đồng, ấy là cái thể nghiệm sự ứng dụng vậy”.

Theo đó, nhạc chương dùng trong các ngày đại lễ có 5 chương, là: Từ bình, Thanh bình, Hòa bình, Thăng bình, Thừa bình.

Minh Mạng cho cắm biển ghi tên đường phố tại kinh đô

Ngày nay, không chỉ tại các đô thị lớn mà các thị trấn nhỏ đều có những tấm biển đề tên của các con đường, con phố tạo thuận tiện rất nhiều trong việc xác định vị trí, tìm địa chỉ, quản lý hành chính…, thậm chí còn có tác dụng nhắc nhớ, tri ân đến những chiến công, địa danh, con người cụ thể.

Nếu như việc dựng biển chỉ hướng đi các nơi, lập cột mốc đánh dấu khoảng cách đường đi đã được một số vị vua thời Tiền Lê, Lý tiến hành thì việc đặt tên đường phố, dựng biển ghi tên lần đầu được thực hiện dưới triều vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Sách Đại Nam thực lục cho biết vào tháng 5 năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mạng thứ nhất (1820), vua cho “đặt đường phố ở Kinh thành có khắc biển, ghi tên”.

Vua Khải Định ban thưởng cho những người đại thọ

Tôn kính, trọng vọng người già là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn năm qua. Chính vì vậy sử sách ghi chép rất nhiều đến việc các quân vương nhiều triều đại từng ban yến tiệc, thưởng tiền bạc, lụa là cho các bậc phụ lão trong nước. Thậm chí vào đời Trần, triều đình còn hỏi ý kiến của người già nên làm gì trước cuộc xâm lược của giặc Nguyên Mông: lịch sử đã ghi nhận về “hội nghị Diên Hồng” với tiếng hô: “Quyết đánh” của các bô lão.

Thời Khải Định ở ngôi, có một sự kiện độc đáo liên quan đến người cao tuổi, đó là vào tháng 5 năm Kỷ Mùi (1919) vua ban thưởng cho 8 người đại thọ, trong đó có một nhân vật rất nổi tiếng là cụ Đoàn Tử Quang, người được coi là thí sinh cao tuổi nhất trong lịch sử thi cử nước ta.

Sách Khải Định chính yếu viết: “Tháng 5, chuẩn ban thưởng biển ngạch cùng tiền bạc với mức khác nhau cho 8 vị quan viên cao thọ, gồm: Cấm binh, phó vệ úy Trịnh Văn Hòa ở tỉnh Quảng Nam (94 tuổi); nguyên Thống chế về hưu Nguyễn Như Cung ở phủ Thừa Thiên (81 tuổi); Quang lộc tự Thiếu khanh Trương Thỉnh ở tỉnh Quảng Nam (81 tuổi); Đoàn Tử Quang hàm Trước tác đang an dưỡng tại quê nhà thuộc tỉnh Hà Tĩnh (101 tuổi); Thái Tân, dân thường cao thọ ở tỉnh Hà Tĩnh (101 tuổi); Phạm Văn Châu ở tỉnh Quảng Nam (101 tuổi); Nguyễn Văn Hỗ ở tỉnh Quảng Nam (101 tuổi); Đồng Vũ ở tỉnh Bình Định (101 tuổi)”.

Lê Thái Dũng

Theo bee.net.vn

Advertisements

Chống tham nhũng – không chỉ ở “bao bì”

Mấy ngày qua, người dân TP Cần Thơ tỏ ra rất bất bình khi biết việc ông Nguyễn Hùng Dũng – Phó trưởng Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng của TP Cần Thơ, cho in chức danh bên ngoài bao thư thiệp mời đám cưới của con trai út.

Bao thư thiệp mời đám cưới con trai út ông Nguyễn Hùng Dũng – Phó trưởng Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng của TP Cần Thơ

Một vị lãnh đạo địa phương còn cho biết là sẽ yêu cầu ông Dũng phải giải trình, kiểm điểm. Lý do khiến nhiều người bất bình vì cho rằng ông Phó Ban in chức danh như vậy không khác gì ép người ta phải đi.

Dù cách in thiếp mời như thế không ổn, là bất bình thường, nhưng qua vụ việc này dư luận có thể rút ra được nhiều điều đáng suy nghĩ.

Tại sao thấy chức danh Phó ban Phòng chống tham nhũng thì sợ mà phải đi? Nếu không có tật sao giật mình nhỉ. Người mời thì chỉ biết mời vì gia chủ cũng đã mang bao thơ dự vô số đám cưới, tiệc tùng của nhà khác rồi, có đi có lại cho vui vậy thôi. Khách có đi hay không, bao thơ nặng hay nhẹ chủ nhà đâu có ép… Ông Nguyễn Hùng Dũng có thể nói như vậy.

Vì vậy, căn cứ vào cái bao bì mà quy kết, thậm chí xử lý rùm beng để làm gương cũng chưa hẳn đã hay. Cái mà người dân chờ đợi chính là sự liêm khiết, tiết kiệm thật sự của đội ngũ cán bộ chứ không phải cần những lời phát biểu sáo rỗng, những giáo điều xa thực tế, những vụ việc ầm ĩ nhưng cũng chỉ như bao bì che đậy một sự thật khác hẳn.

Ông Nguyễn Hùng Dũng đã “thật thà” ghi tên và chức danh mình lên thiếp cưới con nhưng nhiều vị khác khéo léo hơn, chỉ nhắn tin, gọi điện mời thì sao, chưa biết cách nào “ép phê” hơn cách nào?

Người dân không thể không đặt câu hỏi về thu nhập khi quan chức giỗ cha mà ô tô nườm nượp về dự, đám cưới, đám ma, đám sinh nhật đều xa hoa… Ông Phó trưởng ban Nguyễn Hùng Dũng này báo chí phản ánh rằng có đến cả ngàn khách đến dự tiệc cưới, nhưng các vị khác thì sao? Đã xử lý ai về việc tổ chức tiệc tùng như vậy chưa? Mỗi đám tiệc cưới như vậy, gia chủ có thể thu hàng tỷ đồng, liệu có kiểm soát được để bắt buộc họ nộp thuế thu nhập hay không? Chính phủ đã có quy chế về việc tổ chức việc cưới việc tang văn minh, sao quan chức không chấp hành mà vẫn không bị xử lý?

Rõ ràng hơn nữa là có những quan chức có nhiều đất đai, tài sản nhưng hình như chưa thấy ai bị kỷ luật vì có nhiều tài sản. Tài sản đó do đâu mà có, nếu không có nguồn thu chính đáng thì đó là thu nhập bất minh, có thể xử lý được, nhưng không ai bị xử lý cả. Với thực trạng đó thì tham nhũng vẫn ung dung, quan tham vẫn vững như bàn thạch và họ sẽ không ngừng nghĩ mưu để kiếm được nhiều hơn. Có vị trước khi về hưu ký hàng chục quyết định bổ nhiệm, đó là vì cái gì nhỉ? Bổ nhiệm cán bộ, phê duyệt dự án là những lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, không khó nhận biết nhưng chưa có biện pháp nào để ngăn chặn thật sự có hiệu quả.

Nếu không thay đổi thật sự trong lối sống của một bộ phận quan chức hiện nay, nếu không có chế tài giám sát thu nhập và chuẩn mực đạo đức cán bộ thì dù có phê bình, kiểm điểm đến ngàn lần thì tình trạng kiếm chác, tạo cớ ăn hối lộ và đưa hối lộ vẫn còn đất sống.

Chuyện chống tham nhũng, không chỉ ở cái bao bì, cái hình thức bề ngoài…

Vũ Chân Thư

Kinh tế Việt Nam có cơ hội thành một 'con hổ' mới

Bài nhận định của Wall Street Journal về sự hình thành một nhóm các nền kinh tế mới, hứa hẹn có thể thay thế Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.

10 năm sau ngày Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc hình thành nhóm các nước phát triển BRICs, những người yêu thích trò ghép chữ lại một lần nữa hào hứng với cái tên mới đầy hấp hẫn từ các thị trường mới nổi – CIVETS.

Nhóm các nước CIVETS gồm Colombia, Indonesia, Việt Nam, Ai Cập (Egypt), Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) và Nam Phi (South Africa) đang được nhận định có cơ trở thành những “con hổ” kinh tế mới. Những nước này đều có số dân đông và trẻ với tuổi đời trung bình 27. Điều này đồng nghĩa nhóm sẽ hưởng lợi rất nhiều từ tiêu dùng quốc nội tăng nhanh, không giống với BRICS, những nước phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu tiêu dùng từ nước ngoài. Các thành viên của CIVETS đều là những nước có tốc độ phát triển cao với nền kinh tế đa dạng.

Tập đoàn HSBC mới đây đã cho ra mắt quỹ đầu tiên tập trung vào nhóm các nước này hồi tháng 5/2011, lấy tên Quỹ GIF CIVETS. HSBC có ý định tăng lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào các quốc gia thuộc nhóm này, giúp hạ mức nợ công (trừ Thổ Nhĩ Kỳ) và nâng điểm tín dụng đầu tư của CIVETS.

Tuy nhiên, các nhà phân tích chỉ ra rằng CIVETS không hề có điểm chung nào khác ngoài lượng dân số trẻ. Hơn thế thanh khoản và những khu vực chính quyền tự trị của nhóm này đang rất rời rạc, chắp vá, cộng thêm những nguy cơ về mặt chính trị vẫn đang rình rập, đặc biệt đối với Ai Cập.

Chuyên gia đầu tư Darius McDermott của công ty tài chính Chelsea Financial Services nói: “Tôi thấy việc tạo ra CIVETS là không cần thiết. Giữa Việt Nam và Ai Cập có mối liên quan nào hay không? Ít nhất nhóm BRICs vẫn là 4 nền kinh tế mới nổi lớn nhất, đó là lý do kéo họ lại gần nhau”.

Tuy nhiên, giới đầu tư lại nhìn nhận có cơ hội gặt hái nhiều lợi nhuận từ nhóm này dù các quốc gia thành viên chẳng mấy liên quan đến nhau. Thực tế cho thấy, mặc dù CIVETS ra đời năm 2007, nhưng chỉ số S&P CIVETS 60 đang xếp trên cả S&P BRIC 40 và S&P Emerging BMI, hai chỉ số đại diện cho hai nhóm kinh tế phát triển khác ra đời từ trước đó.

CIVETS - nhóm các nền kinh tế hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội cho giới đầu tư.

Colombia
Colombia đang trở thành điểm đầu tư đầy năng động cho các nhà tài chính, sau khi tự mình nỗ lực vượt qua những rắc rối trong quá khứ. Tổng thống Juan Manuel Santos kể từ khi nhậm chức năm 2010 đến nay vẫn là trung tâm của mọi chính sách đúng đắn với việc bảo đảm và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, tiếp nối thành công của người tiền nhiệm Alvaro Uribe.

Các biện pháp thắt chặt an ninh đã xóa sổ 90% số vụ bắt cóc và 46% vụ giết người tại Colombia trong thập kỷ qua, giúp tỷ lệ GDP trên đầu người tăng gấp đôi kể từ năm 2002. Thêm vào đó, Colombia cũng đang có được điểm tín nhiệm khả quan từ phía 3 hãng xếp hạng tín nhiệm uy tín nhất thế giới là Moody’s, Standard and Poor’s và Fitch. Quốc gia với 46 triệu dân này có nguồn thu chủ yếu từ dầu mỏ, than và các mỏ khí đốt tự nhiên. Các ngành công nghiệp phát triển khác là dệt may, cà phê, khai thác nickel và ngọc lục bảo. Năm 2010, đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Colombia đạt 6,8 tỷ USD, đối tác lớn nhất là Mỹ.

HSBC nhận thấy Bancolombia, ngân hàng tư nhân lớn nhất Colombia là một mảnh đất tiềm năng. Trong 8 năm trở lại đây, giá trị cổ phiếu của ngân hàng mỗi năm tăng trên 19%.

Indonesia
Indonesia là quốc gia có dân số đông thứ 4 trên thế giới, thị trường tiêu dùng quốc nội khổng lồ của họ giúp vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không thể ngoạn mục hơn. Năm 2009, GDP bình quân hàng năm của Indonesia tăng 4,5% và đạt 6% vào năm 2010. Các chuyên gia nhận định con số này sẽ giữ nguyên trong ít nhất vài năm nữa.

Với chi phí nhân công rẻ nhất tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cùng với tham vọng đi lên của Chính phủ, giới quan sát không thấy ngỡ ngàng khi nhiều nhà phân tích dự đoán đất nước 240 triệu dân này xứng đáng thuộc nhóm các quốc gia tiếp bước BRIC.

Tuy nhiên, nạn hối lộ vẫn còn là vấn đề nhức nhối tại đây. Andy Brown, chuyên gia quản lý đầu tư của công ty quản lý tài sản Aberdeen, đơn vị sở hữu công ty Auto International chuyên kinh doanh xe máy, ôtô, chia sẻ: “Chúng tôi hy vọng Auto International sẽ thu nhiều lợi nhuận tại Indonesia do tiêu dùng quốc nội tại đây đang tăng nhanh chóng, chủ yếu trong doanh thu bán xe máy”.

Việt Nam
Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới trong vòng 20 năm qua. Ngân hàng Thế giới dự đoán mức tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay đạt 6% và sẽ tăng lên 7,2% vào năm 2013. Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc, thị trường sản xuất và tiêu thụ lớn nhất nhì thế giới, cộng với 90 triệu dân thực sự đã trở thành trung tâm sản xuất đầy tiềm năng trong mắt giới đầu tư và cả các chuyên gia phân tích.

Mặc dù Việt Nam đã rời bỏ nền kinh tế tập trung từ vài năm nay, nhưng mới gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2007 và các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn gặp những trở ngại nhất định. Ông Andry Brown nhận định: “Thực tế là đầu tư vào Việt Nam còn rất khó khăn”.

Ai Cập
Các chuyên gia kỳ vọng vào sự phục hồi của Ai Cập ngay sau khi nước này có thể bình ổn nền chính trị và vượt qua được những khó khăn trước mắt. Cũng như các nước thuộc CIVETS khác sở hữu lượng dân số trẻ và sung sức, độ tuổi trung bình dân Ai Cập là 25, với 82 triệu dân.

Ngân hàng Thế giới dự đoán tăng trưởng của Ai Cập năm 2011 chỉ đạt 1%, so với mức 5,2% của năm ngoái và trên 7% của thời kỳ trước cuộc suy thoái. Chuyên gia nhận định ngay khi Ai Cập phục hồi lại mức thương mại như cũ, quốc gia này sẽ lập tức biết tận dụng những gì thiên nhiên ưu đãi cho mình. Ai Cập sở hữu vị trí như cảng thông thương thuận tiện giữa biển Địa Trung Hải và biển Đỏ, nối với kênh đào Suez và sở hữu nguồn khí đốt tự nhiên khổng lồ chưa được khai thác hết. Một số chuyên gia xem Ai Cập như “Thổ Nhĩ Kỳ mới”.

Thổ Nhĩ Kỳ
Nằm giữa châu Âu và “cái rốn” năng lượng Trung Đông, biển Caspian và Nga, Thổ Nhĩ Kỳ đang có được những bước tăng trưởng mạnh mẽ. Ngân hàng Thế giới dự đoán GDP tại đây sẽ tăng 6,1% trong năm nay so với năm ngoái, tuy có giảm xuống 5,3% vào năm 2013, vẫn cao hơn mức 4,7% của năm 2009.

Thổ Nhĩ Kỳ vốn sở hữu một số nguồn nguyên liệu tự nhiên, nhưng vẫn mở rộng nền kinh tế của mình sang các lĩnh vực như xây lắp các đường ống dẫn dầu, tự biến mình thành trạm trung chuyển quan trọng giữa châu Âu và Trung Á

Phil Poole, chuyên gia tại HSBC cho biết: “Thổ Nhĩ Kỳ là một nền kinh tế năng động, có nhiều mối giao thương với EU nhưng không gặp bất kỳ khó khăn gì từ mối quan hệ này”.

Ông Poole đánh giá hãng hàng không quốc gia Turk Hava Yollari của Thổ Nhĩ Kỳ là nơi đầu tư rất tốt, trong khi ông Brown có cảm tính với tiêu dùng quốc nội tại đây.

Nam Phi
Nam Phi là quốc gia phát triển nhất châu Phi trong thời gian dài, với nền kinh tế đa dạng , giàu có nhờ các nguồn tài nguyên tự nhiên như vàng, platinum và đang thu hút đầu tư sản xuất.

Giá các mặt hàng tiêu dùng gia tăng, nhu cầu ngành công nghiệp máy móc và hóa chất cũng tăng theo và kỳ World Cup vừa rồi đã giúp Nam Phi đạt đà tăng trưởng trước đây sau khoảng thời gian rơi vào suy thoái trong suốt những ngày tháng u ám của kinh tế toàn cầu. Nam Phi hiện đóng vai trò như cổng kết nối đầu tư từ nước ngoài vào các khu vực khác của châu lục.

HSBC cho biết tiềm năng phát triển dài hạn của Nam Phi là khai thác mỏ, ngành năng lượng và nhà máy hóa chất Sasol. Giới trung lưu tại đây gia tăng nhanh chóng giúp tiêu dùng quốc nội trở nên đầy tươi sáng và hấp dẫn.

Anh Quân

Theo vnexpress

Học ở Hiến pháp năm 1946

Để nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về kỹ thuật lập hiến, về tư tưởng Nhà nước pháp quyền, có lẽ, chúng ta không cần phải học hỏi ở đâu xa, mà học ngay ở Hiến pháp năm 1946.

Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực Nhà nước. Đây thực sự là một bản kế ước xã hội về việc phân chia quyền: quyền của các công dân và quyền của Nhà nước; quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau.

Nếu Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được tổ chức trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì Hiến pháp đã được đặt cao hơn Nhà nước. Về mặt thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1. Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).

Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều 10 quy định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận; – Tự do xuất bản; – Tự do tổ chức và hội họp; – Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”; Điều 12 quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Như chúng ta thấy, Hiến pháp không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó, mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương nhiên (do tạo hóa ban cho).

Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện khá mạch lạc, và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54)…

Việc phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59).

Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).

Hiến pháp năm 1946 là di sản to lớn về tư tưởng và văn hóa lập hiến của dân tộc. Di sản này sẽ mãi soi sáng trí óc và con tim của chúng ta trong quá trình phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Nguyễn Sĩ Dũng (Theo Tia Sáng)

Ba cái nhất đáng buồn trong quản lý đất đai

Đó là: Không được lòng dân nhất, có nhiều biểu hiện tiêu cực nhất và thất thoát nhiều nhất.

Mở đầu tham luận của mình tại hội thảo khoa học về kiểm toán các nguồn thu từ đất do kiểm toán nhà nước tổ chức ngày 15-9, ông Phạm Đình Cường, Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), nhận định: “Tổng kết lĩnh vực đất đai ở VN thời gian qua cho thấy có ba cái nhất. Một là không được lòng dân nhất, thể hiện qua con số 70% các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai. Hai là có nhiều biểu hiện tiêu cực nhất, thể hiện qua số lượng quan chức bị mất chức, xử lý hành chính, xử lý hình sự liên quan đến đất đai là nhiều nhất. Ba là thất thoát nhiều nhất khi có tới 10% tổng diện tích đất chưa được sử dụng – đây là một nguồn lực khổng lồ bị thất thoát”.

Từ ba vấn đề nêu trên, ông Cường cho rằng thực tế đang vướng hai điểm, đó là việc ồ ạt giao đất và việc tính giá đất theo giá thị trường.

Bán hết rồi lấy gì mà thu?

Ông Cường cho biết có ý kiến cho rằng nên chuyển thật nhanh từ cho thuê sang giao đất để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, theo ông Cường, nên xem khoản thu từ đất là thu tài nguyên. “Nếu chuyển từ cho thuê sang giao đất thì sẽ không thể thu thêm lần nào nữa. Vì thế, chúng ta nên nghiêm túc xem lại có nên phát triển nguồn thu này không. Nếu ồ ạt giao đất ở vì mục tiêu tài chính thì nay mai muốn phát triển đô thị, làm các khu hành chính, công trình phúc lợi… chúng ta sẽ không còn đất để mà làm gì cả” – ông Cường cảnh báo.

Nguồn thu từ tiền sử dụng đất khi nhà nước giao đất sẽ không bền vững khi quỹ đất ngày một hẹp lại. Trong ảnh: Thi công một dự án nhà xưởng tại quận 12, TP.HCM. Ảnh: HTD

Đồng tình, ông Võ Duy Khương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Đà Nẵng, cho biết thu nội địa từ tiền sử dụng đất của Đà Nẵng luôn luôn năm sau cao hơn năm trước, có năm tăng 50%. “Nếu cứ tăng tốc độ giao đất – chuyển quyền sử dụng đất như hiện nay thì không bao lâu nữa Nhà nước sẽ không còn đất. Đất đã giao cho doanh nghiệp rồi thì rất khó thu hồi, nhất là đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu thu hồi lại thì chắc chắn phải bồi thường với giá rất đắt. Chúng ta nên dừng việc giao đất ồ ạt như hiện nay mà chuyển sang cho thuê thôi. Nếu cứ tiếp tục giao đất thì hậu quả con cháu sẽ phải gánh chịu” – ông Khương nhấn mạnh.

GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, cũng cung cấp thông tin: Nguồn thu từ ngân sách từ đất khoảng 30.000 tỉ đồng nhưng có tới 80% là thu từ tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất. Về bản chất là Nhà nước bán quyền sử dụng đất. Nguồn thu này không bền vững khi quỹ đất ngày một hẹp lại.

Vẫn tắc chuyện giá đất thị trường

Về giá đất, ông Cường phân tích sau bốn lần sửa Luật Đất đai thì đến năm 2003, chúng ta mới khẳng định chuyển nhượng đất đai phải theo giá thị trường. Nhưng hiện nay, không chỉ cơ quan nhà nước mà các chuyên gia, người dân cũng băn khoăn việc tính giá đất theo thị trường. “Không thể không tính giá đất theo giá thị trường. Bởi giá đất là thành tố của chi phí sản xuất, nếu trong kinh tế thị trường mà lại cho rằng có những thành tố phi thị trường thì thật không ổn. Nhưng thế nào là giá đất theo giá thị trường thì lại rất khó. Hiện giá đất do UBND tỉnh quy định cũng chưa thật theo giá thị trường” – ông Cường bày tỏ.

Ông Khương cũng cho hay để hướng dẫn tính giá đất theo giá thị trường, Đà Nẵng có thuê tư vấn tính giá đất quận Hải Châu. “Nhưng vừa rồi Đà Nẵng cũng đã phải báo cáo với Bộ Tài chính xin lùi việc tính giá đất theo giá thị trường sang năm 2012” – ông Khương nói.

LÊ THANH

Theo phapluattp.vn

%d bloggers like this: