//
archives

Thời luận

This category contains 116 posts

Đường cong lãi suất bị bẻ thẳng: Dấu hiệu bất ổn tiền gửi

Ngay sau Ngân hàng Nhà nước kiên quyết thiết lập trần lãi suất tiền gửi 14%, một ngân hàng tung ra thị trường mức lãi suất huy động một ngày 14%/năm. 

“Một cây không thể tả cả rừng”, nhưng cùng với các số liệu khác, cho thấy nguồn tiền gửi trên hệ thống đang gặp bất ổn, cả về cơ cấu lẫn doanh số.

Đường cong lãi suất thẳng băng…

Trong thông báo phát đi, ngân hàng nói trên cho biết, để “tri ân” khách hàng, kể từ 12/9/2011, họ đưa ra mức lãi suất 14%/năm đối với sản phẩm “tiền gửi linh hoạt ngày”, áp dụng cho tất cả khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp với kỳ hạn từ 1-2-3-4-5-6 ngày.

Theo đó, sản phẩm này không chỉ giúp khách hàng nhận  được mức lãi suất cao và hấp dẫn mà còn giúp khách hàng linh hoạt trong việc sử dụng nguồn vốn của mình.

Mặc dù ngân hàng này cho rằng, đây là sản phẩm đặc thù chỉ có duy nhất trong hệ thống và lần đầu tiên được triển khai, nhưng thực tế, rất nhiều ngân hàng khác đã duy trì mức lãi suất 14%/năm đối với cả tiền gửi thanh toán. Trong khi, tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ lưu lại bất chợt trong hệ thống ngân hàng, thậm chí với thời gian mấy tiếng đồng hồ.

Mổ  xẻ về loại “tiền gửi một ngày lãi suất 14%/năm”, bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng biên tập tạp chí Ngân hàng, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Kế toán – Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Xét về bản chất, mức lãi suất này đã vi phạm chỉ đạo trần lãi suất tiền gửi 14%/năm của Ngân hàng Nhà nước”.

Cụ  thể, 14%/năm là lãi suất của năm, nếu quản lý  theo dòng tiền “lãi đẻ ra lãi” thì  lãi suất của sản phẩm trên đã vượt trần quy định, thậm chí còn lên tới 15% – 16%/năm. Và đó là tiểu xảo để lách trần lãi suất.

Lách ở chỗ: khách hàng gửi tiền tính theo lãi suất ngày thì ngân hàng sẽ trả lãi ngay trong ngày đó, và khách hàng nhập lãi này vào gốc và nói “lãi đẻ ra lãi” là vì thế.

Chung ý kiến với bà Hương, cán bộ nguồn vốn một ngân hàng thương mại nhà nước nói: “Tiền gửi kỳ hạn 3 tháng, 4 tháng, với lãi suất 14%/năm đã là lách luật, nay nếu gửi một ngày mà cũng 14%/năm thì càng quá quắt!”.

Theo vị này, việc Ngân hàng Nhà nước chưa khống chế mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi ngắn hạn như sản phẩm tiền gửi nói trên là sơ hở. Theo vị cán bộ này, đối với các loại tiền gửi đó, chỉ nên duy trì mức lãi suất 2%/năm.

Thứ  hai là vấn đề thanh khoản của các ngân hàng. Một chuyên gia ngân hàng cho rằng, đã gọi là kỳ hạn một ngày hay “không kỳ hạn”, hoặc “tiền gửi thanh toán” thì bản chất là một, nếu xét về mặt kỳ hạn.

Theo thông lệ quốc tế, “tiền gửi thanh toán” còn chẳng được trả một xu lãi suất nào, chứ đừng nói đến 14%/năm. Điều đó cho thấy, mức độ cần vốn của ngân hàng đó rất lớn và không loại trừ thanh khoản đang gặp vấn đề” – vị này cho biết.

Mở rộng một chút, nếu xét về nguyên lý đường cong lãi suất “gửi càng lâu, lãi suất càng cao”  thì diễn biến trên thị trường đang theo chiều ngược lại: lãi suất kỳ hạn ngắn dài đều như nhau,  tiền gửi một ngày và tiền gửi trên một năm hay lâu hơn đều thẳng băng cùng mức 14%/năm. Điều này đã làm cho nguồn vốn của ngân hàng tỏ ra bất ổn về cơ cấu kỳ hạn và phản ánh sự khát thanh khoản.  

…và bất ổn tiền gửi

Ngày 15/9, tại cuộc họp của tất cả các tổ chức tín dụng trên  địa bàn Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội cho biết, tính đến 31/8/2011, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại khu vực này đạt trên 820 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với 31/12/2010, chiếm trên 1/3 so với tổng nguồn huy động toàn hệ thống ngân hàng.

Trong đó, nguồn tiền gửi VND chiếm tỷ trọng 73,1%, ngoại tệ chiếm 26,9% của tổng nguồn.

Một trong những thế mạnh của Hà Nội là huy động vốn nhưng trong ba tháng 5 – 6 – 7, nguồn huy động giảm so với cuối 2010. Trong tháng 8, huy động tăng chút ít nhưng hiện tại, việc huy động vốn bắt đầu trở nên khó khăn.

Liên quan đến vấn đề cơ cấu tiền gửi, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội cho biết, tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng trên 34%, tăng 5% so với 31/12/2010; phát hành giấy tờ có giá chiếm trên 11%, tăng tương ứng 8,7%, còn nguồn tiền gửi thanh toán chiếm tới 54,6%.

Như  nói trên, do tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng cao nên đã gây bất ổn đến cơ cấu nguồn vốn ổn định cho ngân hàng, làm cho việc cấp tín dụng ra nền kinh tế rất khó khăn. Điều này lý giải vì sao, khách hàng muốn vay dài hạn thì rất khó so với vay ngắn hạn và nếu vay được thì phải chịu mức lãi suất rất cao.

Thứ  hai, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên  địa bàn Hà Nội đến 31/8/2011 đạt khoảng 568,5 tỷ đồng, tăng gần 11,5%; trong đó, dư nợ VND tăng gần 7%, trong đó dư nợ ngoại tệ tăng trên 21%.

Như  vậy, so sánh tốc độ tăng của huy động vốn (3,2%) và tốc độ tăng tín dụng 11,5% đã có sự  chênh lệch rất lớn và đặt ra mối lo về cân  đối nguồn và sử dụng nguồn. Vì thế, các tổ chức tín dụng đã huy động bằng mọi giá và khi trần lãi suất tiền gửi bị khống chế ở mức 14%/năm thì họ sẵn sàng san bằng lãi suất cho tất cả các kỳ hạn.

Thứ  ba, theo tìm hiểu của người viết thì vốn huy động toàn hệ thống trong mấy ngày qua đã có biểu hiện sụt giảm so với trước khi thiết lập lại trần lãi suất 14%/năm.

Có vẻ như có sự trùng hợp nhưng không hoàn toàn ngẫu nhiên là khi dòng tiền vào ngân hàng sụt giảm thì thị trường chứng khoán tăng điểm. Rất có thể một phần trong đó đã được giải ngân cho thị trường chứng khoán và tạo nên vài đợt sóng ngắn hạn vừa qua. Hiện tượng này cũng chứng minh một thực tế: “ngân hàng hãm tín dụng thì chứng khoán đỏ, nới lỏng tín dụng thì chứng khoán xanh”.

Liên quan đến câu chuyện vốn huy động toàn hệ thống bắt đầu sụt giảm kể từ sau 7/9 (ngày Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị 02, nghiêm cấm lách trần lãi suất), tại cuộc họp của tất cả tổ chức tín dụng trên địa bàn Hà Nội sáng 14/9, hàng loạt lãnh đạo ngân hàng thương mại kêu ra rả khách hàng rút tiền khỏi ngân hàng. Mặc dù không đưa ra lý do nhưng những ý kiến này đều ngầm ý đổ lỗi cho trần lãi suất tiền gửi 14%/năm.

Điều này cũng đồng nghĩa, một áp lực đang hiện dần lên chính sách trừng phạt xé rào lãi suất và ứng xử của Ngân hàng Nhà nước như thế nào trước vấn đề này sẽ còn phải chờ thêm ít ngày tới.

Còn trước mắt, Ngân hàng Nhà nước vẫn thẳng tay với hai ngân hàng vi phạm trần lãi suất tiền gửi.

Trong thông báo phát đi chiều muộn 14/9, Ngân hàng Nhà nước cho biết, thứ nhất, kỷ luật nặng hai cán bộ của Ngân hàng Đông Á và cấm ngân hàng này trong vòng một năm không được mở chi nhánh, phòng giao dịch, đặt máy ATM trong phạm vi toàn quốc.

Thứ hai, kỷ luật hai cán bộ của một ngân hàng khác vì đã tự ý lấy tiền túi tặng thêm cho khách gửi tiền và thưởng ngoài lãi suất cho khách hàng.

Năm ngoái, Techcombank cũng bị Ngân hàng Nhà nước kỷ luật lách trần lãi suất bằng hình thức không được mở chi nhánh, phòng giao dịch, đặt máy ATM trong vòng một năm.

Theo Vneconomy

Advertisements

WB: Kinh tế thế giới vào vùng nguy hiểm mới

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Robert Zoellick ngày 14-9 đã cảnh báo kinh tế thế giới đang tiến vào vùng nguy hiểm mới. Châu Âu, Nhật Bản cùng Mỹ phải khẩn cấp đưa ra những quyết định để tránh đẩy kinh tế toàn cầu vào suy thoái.

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Robert Zoellick

“Nếu châu Âu, Nhật Bản và Mỹ không thể gánh vác những trách nhiệm, không chỉ riêng họ suy thoái mà sẽ là cả nền kinh tế toàn cầu”, Reuters dẫn lời ông Zoellick nói tại Đại học George Washington, Mỹ.

Bài phát biểu của ông Zoellick khẳng định sự lo sợ của các nhà hoạch định chính sách trên toàn cầu về cuộc khủng hoảng nợ công đang thêm trầm trọng ở châu Âu, cũng như những cải cách chưa thấy hiệu quả trong lĩnh vực tài chính và chi tiêu công tại Mỹ và Nhật Bản.

Ông Zoellick cho rằng các nước châu Âu đang lẩn tránh sự thật về trách nhiệm chung của họ. Nhật Bản trì hoãn các cải cách kinh tế xã hội cần thiết và khác biệt về quan điểm chính trị tại Mỹ đã ngăn cản các nỗ lực cắt giảm thâm hụt ngân sách.

“Không còn thời gian để tranh cãi nữa – ông Zoellick nói – Nếu chúng ta không nhanh chóng vượt qua, nhanh chóng thay đổi, gác qua những đòi hỏi chính trị ngắn hạn, không nhận ra rằng quyền lực đi kèm với trách nhiệm, chúng ta sẽ bị cuốn vào dòng xoáy nguy hiểm”.

* Ngày 14-9, với tỉ lệ 314 phiếu ủng hộ và 300 phiếu chống, Hạ viện Ý đã chính thức thông qua kế hoạch “thắt lưng buộc bụng” trị giá khoảng 74 tỉ USD. Đây là kế hoạch thắt lưng buộc bụng trọn gói thứ hai của Chính phủ Ý được Quốc hội nước này thông qua trong vòng 3 tháng qua, nhằm trấn an các thị trường trong bối cảnh đang xảy ra cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu. Kế hoạch này trước đó cũng đã được Thượng viện thông qua.

Bên ngoài tòa nhà quốc hội vào tối 14-9, trong cuộc bỏ phiếu, cảnh sát chống bạo động đã được triển khai để đảm bảo an ninh trước đám đông giận dữ phản đối việc cắt giảm chi tiêu.

Chương trình thắt lưng buộc bụng dự kiến sẽ giúp Ý chấm dứt thâm hụt ngân sách vào năm 2013, nhưng cần thêm thời gian để biết Hãng Moody có giữ mức đánh giá Aa2 với tín dụng chính phủ của Ý như hiện giờ hay không.

Hãng Moody từng cảnh báo có thể hạ mức tín nhiệm của Ý vào ngày 17-6 và quyết định của họ dự kiến được đưa ra vào cuối tuần này.

H.MINH

Theo tuoitre.vn

Nghĩ về câu dân chủ của Bác Hồ

Dân chủ là dân làm chủ

Bác Hồ có cách giáo dục cán bộ rất tài tình. Không lý luận dài dòng, chỉ mấy lời giản dị, cụ thể mà sâu sắc, thấm thía. Một lần, Bác Hồ đến thăm trường cán bộ miền Nam. Bác cháu rất vui vẻ:

Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình

Trong câu chuyện, Bác hỏi: – Bác đố các chú: Ai to nhất nước Việt Nam?

– Thưa Bác: Bác ạ, Bác ạ! Tất cả đều đồng thanh trả lời.

Bác bảo: “Các chú ngồi xuống, các chú phong kiến quá. Bác đọc cho các chú nghe nhé: Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ai là chủ đây, các chú? À, dân chủ, vậy là dân làm chủ, còn Bác cháu ta chỉ là công bộc của nhân dân mà thôi”.

Còn dân thì nước vẫn còn

Ngay sau khi nước ta vừa dành được Độc lập, quân đội Tưởng ồ ạt kéo vào miền Bắc, kéo theo bọn Quốc dân Đảng và Cách mạng Đồng minh, âm mưu lật đổ Chính phủ ta để lập ra một chính quyền tay sai, phục vụ cho chúng. Nhân dân ta rất xôn xao, cán bộ đều căm phẫn. Lúc này chính sách của Đảng ta và Bác Hồ là: Phải tỏ thái độ hợp tác, hữu nghị với họ vì họ nhân danh Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, do đó không được để mắc mưu của chúng, không để xảy ra xung đột … Sợ dân các nơi có quân Tưởng đóng, không kìm được nóng nảy, dễ gây ra xung đột, Bác đã triệu tập Chủ tịch các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn Tây, Bắc Giang, Lạng Sơn v.v… về Hà Nội để gặp Bác. Bác nói: “Chính phủ cho gọi các chú về có một số việc. Hình như quân Tưởng đóng ở các tỉnh đã gây ra cho các chú nhiều chuyện rắc rối lắm phải không?

Được lời như cởi tấm lòng các đại biểu thi nhau kể tội bọn Tàu Tưởng. Bác giơ tay ra hiệu im lặng ý nói: Bác hiểu hết cả rồi. Và Bác nhẹ nhàng giảng giải: “Bác nói để các chú hiểu: Họ nhân danh Đồng minh và tước vũ khí quân đội Nhật, mình không tỏ thái độ hợp tác, họ sẽ vin cớ ấy để gây khó dễ cho mình”. Các đại biểu hỏi Bác:

– Thưa Bác, mình muốn hợp tác hữu nghị, nhưng họ lại không muốn, muốn cướp đất của ta thì làm thế nào ạ?

Bác giải thích vắn tắt: “Mình hữu nghị vì họ có 500 triệu dân mà mình chỉ có 20 triệu dân, họ có 4 triệu quan mà quân đội ta thì mới đang xây dựng. Hữu nghị là như thế các chú hiểu không?

Mọi người vẫn im lặng, Bác nói tiếp: “Các chú mất đất là mất bao nhiêu? Thế các chú có thấy dân ta hợp tác với họ, tin tưởng vào họ không? Nếu dân không đúng về phía chúng, không tin tưởng gì chúng thì chúng ta không mất gì cả! Như mất đất mà không mất nước. Các chú phải nắm vững đường lối của Đảng và Chính phủ, phải tuân theo chỉ thị của Trung ương. Chú nào làm sai phải chịu kỷ luật”. Bác lại hỏi: “Có chú nào ý kiến gì nữa không?”
Tất cả đều nhất trí, không ai có ý kiến gì nữa vì qua cách giải thích ngắn gọn và rất sâu sắc của Bác, tất cả mọi người đều thông suốt, đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của thường vụ Trung ương Đảng, của Bác Hồ.

Quay máy ra mà chụp nhân dân

Ngày 2/9/1945 lịch sử, Ba Đình nắng rất đẹp. Dòng người đổ về Quảng trường: Giài phóng quân từ chiến khu về, tự vệ mới thành lập, các đoàn thể: Thanh niên, Phụ nữ, Công dân, Nông dân, Thiếu nhi, các tầng lớp nhân dân của thủ đô Hà Nội, xếp hàng ngũ chỉnh tề quanh lễ đài. Niềm vui bất tận dâng lên tràn ngập lòng người khi được nghe Bác Hồ long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào trong nước và cả thế giới khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là những hình ảnh đẹp nhất trong ngày thành lập nước…

Lễ độc lập kết thúc, Bác Hồ về trên 1 chiếc xe màu đen, cửa kính hơi thấp. Một phóng viên đón đường, ghé máy ảnh sát vào cửa kính định chụp ảnh Bác. Bác Hồ xua tay không cho chụp và nói: “Chú quay máy ra ngoài kia mà chụp nhân dân!”.

Cây gậy chữ “Nhân”

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các vị nhân sĩ, trí thức trong Quốc hội và Chính phủ phần lớn vì yêu mến và tin tưởng vào Bác Hồ kính yêu mà đi theo kháng chiến, chưa phải ngay một lúc nhận ra được vai trò và sức mạnh của nhân dân. Có người biếu Bác một cây gậy đẹp và quý làm bằng xương rắn ghép lại, mỗi đốt đều có hình chữ “nhân”. Trong một buổi họp liên tịch giữa Hội đồng Chính phủ với Ban Thường vụ Quốc hội, Bác Hồ đã đem cây gậy quý ấy tặng lại cụ Bùi Bằng Đoàn và nói một câu vừa giản dị, vừa ý nghĩa: “Khi đở tay, có cây gậy này, Cụ sẽ luôn luôn nghĩ đến nhân dân”.

Nhận cây gậy từ tay Bác trao, cụ Bùi Bằng Đoàn cũng như các vị nhân sĩ có mặt hôm đó đều cảm kích thấm thía trước ân tình và lời nhắc nhở của Bác Hồ. Cụ Bùi Bằng Đoàn hứa dù tuổi cao, sức yếu, nhưng có cây gậy này trong tay, cụ sẽ vượt qua mọi bước đường kháng chiến gian nan, nguyện một lòng một dạ đi với nhân dân đến thắng lợi cuối cùng.

Nguyễn Tấn Tuấn

“Gót chân Asin” của gạo Việt Nam

Từ năm 2002 đến nay, năng suất lúa của nước ta luôn dẫn đầu các nước ASEAN và có khoảng 500.000ha đất lúa (12,5% diện tích) đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ. Đây là mức năng suất cao nhất thế giới hiện nay. Thế nhưng, lúa gạo VN đã bộc lộ “gót chân Asin”.

Xuất khẩu gạo của VN bằng 22% lượng gạo thương mại hàng năm và chiếm ngôi “Á hậu” thế giới, với giá bán xung quanh 500 USD/tấn, rút ngắn dần khoảng cách với Thái Lan, là ngành hàng có dung lượng thị trường lớn, phát triển bền vững sau hơn 20 năm xuất khẩu.

Mặc dù vậy, người nông dân trồng cây lúa lại là người nghèo nhất (theo WB – 2011: Thu nhập thấp hơn mức 1USD một ngày). Vùng ĐBSCL, vùng trồng lúa chủ lực (chiếm 53% sản lượng lúa và 90% sản lượng gạo XK) lại là vùng kém phồn vinh nhất trong các vùng nông nghiệp của nước ta.

Thu hoạch lúa ở xã Vị Tân, TP. Vị Thanh, Hậu Giang.

Phải xây dựng thương hiệu

Mỗi năm chúng ta xuất 5-6 triệu tấn gạo, đứng thứ 2 thế giới nhưng gạo VN lại chưa có thương hiệu. Có lẽ nào trong tương lai, chúng ta không có được những thương hiệu gạo cạnh tranh với gạo nổi tiếng thế giới như Khaowdakmali (Thái), Japonica (Nhật), Basmati (Pakistan), Jasmin (Ấn Độ)?

Ở Trung Quốc, mỗi một thương hiệu đều gắn liền với một huyền thoại, một truyền thuyết nào đó, tạo ra văn hóa kinh doanh Trung Hoa độc đáo. Ở nước ta không thiếu gì truyền thuyết, huyền thoại nhưng lại chưa có sản phẩm cạnh tranh hoặc chưa gắn huyền thoại vào sản phẩm thành văn hóa thương mại VN.

Mô hình thương hiệu gạo Tứ quý của Công ty ADC theo công nghệ GlobalGAP (Mỹ Thành, Tiền Giang, An Giang) đưa gạo vào hệ thống siêu thị Maximart có thể là một ví dụ cho việc bắt tay vào việc xây dựng thương hiệu có giá trị hơn thay vì kêu ca giá gạo rẻ. Công nghệ này đặt ra yêu cầu 214 điều cho nông dân và 121 điều cho HTX phải thực hiện, là mô hình nông nghiệp hợp đồng có cam kết, theo tiêu chuẩn thay cho quy trình sản xuất truyền thống tùy tiện, thiếu ràng buộc trách nhiệm.

Có thể kể ra những thương hiệu gạo Tám (Hải Hậu), gạo thơm Chợ Đào (Long An), gạo De (Huế), gạo Điện Biên, gạo Nếp cái hoa vàng… nổi tiếng để nhân rộng. Mô hình thương hiệu gạo ST5 ở vùng nước lợ Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) 5.000ha trong hệ thống nông nghiệp lúa-tôm đạt lợi nhuận 15-20 triệu/ha có thể là một ví dụ tốt nhân rộng hàng trăm ngàn ha cho vùng cửa sông ở ĐBSCL.

Cùng với việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp và địa phương, cần hiện đại hóa, công nghiệp hóa, pháp chế hóa hệ thống giống lúa ở vùng ĐBSCL đi trước một bước trong các vùng lúa khác của nước ta.

“Gót chân Asin” của lúa gạo

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) số liệu điều tra năm 2010, giá trị gia tăng của lúa gạo vùng ĐBSCL được phân phối như sau: Nông dân 27,3%, thương lái 2%, nhà máy xay xát 6,3%, nhà máy lau bóng 2,6%, doanh nghiệp xuất khẩu gạo 29,2%, người bán lẻ, sỉ 32,6%. Giá trị gia tăng thuần được tính như sau: Nông dân 36,5%, thương lái 18,9%, nhà máy xay xát 12,3%, nhà máy lau bóng 3,4%, doanh nghiệp xuất khẩu 28,9%(với giá thành lúa khoảng 4.000 đ/kg, lao động không thuê).

Tuy nhiên, do diện tích canh tác ít nên sản lượng lúa của hộ ít và kỹ thuật kém, năng suất thấp, giá công thuê lao động cao, chu kỳ sản xuất dài trên 4 tháng, thiếu vốn… nên con số lợi nhuận trên 30% của nông dân trồng lúa là thấp nhất. Ngược lại doanh nghiệp xuất khẩu gạo có khối lượng hàng hóa tập trung lớn, vòng quay vốn kinh doanh ngắn nên lợi nhuận cao hơn. Đây là bài toán giá trị xã hội của hạt gạo VN cần được nghiên cứu và phân bổ lại bằng sự đồng thuận của cộng đồng ngành hàng lúa gạo VN, với sự trọng tài của Nhà nước.

Ngành hàng lúa gạo ở ĐBSCL đang bộc lộ những thiếu hụt liên quan đến lợi ích của nông dân trong quan hệ thị trường: Thiếu hụt về các loại thị trường (đất đai, vật tư, khoa học công nghệ, lao động, tài chính tiền tệ…) làm cho độ rủi ro tăng; thiếu hụt về mối liên hệ, liên thông giữa các thị trường nên nông dân thường thua thiệt, được mùa mất giá; thiếu hụt về chiến lược, chính sách giao thoa giữa thị trường và nông dân.

Bây giờ ở miền Tây đã xuất hiện nhiều mô hình nông gia đại điền, cơ giới hóa sản xuất, với diện tích hàng chục ha/hộ… Lời giải cho câu hỏi này là: Đổi mới mô hình xuất khẩu gạo gắn với phát triển hệ thống phân phối, tham gia vào mạng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng gạo; sửa đổi Luật Đất đai nới rộng dần hạn điền, tăng đầu tư cho hạ tầng (4 triệu tấn kho, sấy, giao thông…), cơ giới hóa, hiện đại hóa, xây dựng cam kết và khế ước văn minh giữa doanh nghiệp và nông dân ngành hàng lúa gạo.

2 khẩu hiệu cho gạo

Lợi thế của vùng ĐBSCL là hàng năm có nhiều phù sa (1 tấn/ha), khí hậu ôn hòa, nước đủ (500 tỷ m3), nông dân trồng lúa giỏi 2-3 vụ/năm. Năng suất lúa ở đây vụ đông xuân 5-7 tấn/ha, vụ hè thu 4-5 tấn, còn vụ thu đông nữa, cả năm có thể đạt xung quanh 10 tấn/ha, doanh thu khoảng xung quanh 2.000USD, gấp đôi Thái Lan (nông dân chỉ làm lúa một vụ đạt 4-5 tấn/ha/năm). Như vậy chúng ta chưa thể cạnh tranh được gạo “ngon” với “Hoa hậu” gạo Thái nhưng hoàn toàn có thể sản xuất lúa với giá thành “ rẻ” hơn họ nhờ năng suất cao, chi phí thấp, sản lượng cao.

Mỗi một lần Festival Lúa gạo là một lần nâng cao thêm nhận thức, đổi mới thêm tư duy, tôn vinh nhiều danh hiệu, đồng thuận thêm hành động để nâng cao giá trị gia tăng lúa gạo cho nông dân, cho ngành hàng lúa gạo VN theo lý thuyết tam giác phát triển bền vững với nguyên tắc là cả 3 giá trị trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường đều có giá trị ngang nhau.

Mỗi một lần Festival Lúa gạo là một lần nâng cao thêm nhận thức, đổi mới thêm tư duy, tôn vinh nhiều danh hiệu, đồng thuận thêm hành động để nâng cao giá trị gia tăng lúa gạo cho nông dân, cho ngành hàng lúa gạo VN theo lý thuyết tam giác phát triển bền vững với nguyên tắc là cả 3 giá trị trụ cột: Kinh tế, Xã hội, Môi trường đều có giá trị ngang nhau.Lời giải của câu hỏi này là cần chuyển đổi cơ cấu hệ thống nông nghiệp theo vùng, tiểu vùng sinh thái, tăng đầu tư cho KHCN, nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống khuyến nông để phổ cập công nghệ hạ giá thành, tăng năng suất, tăng chất lượng, đào tạo nông dân chuyên nghiệp…

Hiện nay hàm lượng KHKT trong công nghệ sản xuất lúa gạo ở vùng ĐBSCL còn thấp, biểu hiện ở 2 chỉ tiêu giá trị/ha trồng lúa và thu nhập của người nô ng dân hàng chục năm vẫn đứng tại chỗ mặc dù sản lượng tăng, tốc độ tăng.

Mô hình tổ chức sản xuất dịch vụ của Công ty CP BVTV An giang và Xí nghiệp Chế biến gạo xuất khẩu Vĩnh Bình mua, chế biến 100.000 tấn gạo xuất khẩu/năm là một ví dụ tốt với phương thức dịch vụ giống, BVTV, phân bón, mua lúa gạo… cho nông dân với lực lượng khuyến nông FF (Farmers Friends) – bạn của nhà nông gồm 400 khuyến nông viên trẻ, qua 10 vụ lúa đã xây dựng được 50 mô hình liên kết, 2.000 điểm trình diễn kỹ thuật…

Chúng tôi đề nghị khẩu hiệu đến 2020 của chúng ta là: “Gạo Việt, giá thành thấp nhất thế giới” và “Đổi mới mô hình xuất khẩu ngành hàng gạo VN” theo hướng xây dựng khế ước văn minh, vận dụng những vận hội mới biến thành thể chế hữu hiệu, có trách nhiệm và hiệu quả hơn với người nông dân trồng lúa, đưa lúa gạo trở thành ngành hàng có hiệu quả lớn, có thương hiệu và sức cạnh tranh hàng đầu thế giới.

Theo Dân việt

Đường sắt cao tốc Trung Quốc và dấu ấn Quốc hội Việt Nam

Từ bài học đắt giá về phát triển nóng vội đường sắt cao tốc của Trung Quốc, càng thấy giá trị và dấu ấn của quyết định nói ‘không’ với dự án dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam của phần lớn đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12.

Chính quyền Trung Quốc quyết định ngưng hết các dự án đường sắt mới, giảm tốc độ trung bình của các tàu cao tốc đang hoạt động, thu hồi sửa chữa 54 tàu cao tốc, kiểm tra độ an toàn đối với tất cả các tuyến đường sắt do tai nạn thảm khốc của tàu cao tốc ở Ôn Châu, Chiết Giang hồi cuối tháng 7 vừa qua. Trung Quốc đã phải cải tổ bộ máy lãnh đạo ngành đường sắt và xem lại tổng thể định hướng phát triển ngành này. Từ bài học đắt giá về phát triển nóng vội đường sắt cao tốc của Trung Quốc, càng thấy giá trị và dấu ấn về quyết định rất sáng suốt, dũng cảm nói “không” với dự án dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam của phần lớn các đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12.

Theo một số chuyên gia ngành giao thông của nước ta đang làm việc ở Nhật Bản, dự án đường sắt cao tốc có tính chiến lược dài hạn, nó không chỉ là dự án giao thông đơn thuần mà là dự án thế kỷ thể hiện sự kết hợp của đa nhân tố: giao thông, phát triển không gian kinh tế và công nghệ tiên tiến. Dự án đường sắt cao tốc đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tốt ở cả 3 khâu: công nghệ, quản lý dự án, điều hành và khai thác dịch vụ.

Trung Quốc  đã có sự chuẩn bị khá tốt ở khâu công nghệ, trong hơn một thập kỷ (1993-2004) họ đã tự mình nâng cấp các tuyến đường sắt khổ hẹp (1067mm) lên khổ tiêu chuẩn (1435mm), điện khí hoá thay thế đầu máy diesel nâng tốc độ tàu chạy trung bình từ 48 km/h lên 160km/h. Đây là điều kiện cần thiết để  bắt tay vào xây dựng hệ thống  đường sắt cao tốc  với vận tốc (V=250-350km/h).  Tuy nhiên, vẫn còn “lỗ hổng ” lớn  ở 2 khâu còn lại là quản lý dự án và điều hành khai thác dịch vụ.

Dự án đường sắt cao tốc của Trung Quốc do nhà nước lập và đầu tư, lơi lỏng khâu kiểm tra,  tính minh bạch của dự án, đã tạo điều kiện cho tham nhũng hoành hành, làm giảm chất lượng công trình, đe dọa tính an toàn của hệ thống khi đem vào khai thác. Khâu điều hành-khai thác của họ cũng có nhiều vấn đề như việc xác định tốc độ khai thác chưa hợp lý, giá vé quá cao so với sức mua của người dân, v.v…

Đối với nước ta, muốn dự án  đường sắt cao tốc được hiện thực hoá và “nằm trong tầm kiểm soát của mình” thì bước đầu tiên phải làm là chuẩn bị khâu kỹ thuật công nghệ, trong đó có công nghệ toa xe, đầu kéo, công nghệ ray hàn nối, công nghệ tín hiệu và tin học điều khiển, công nghệ sản xuất gia công thép, công nghệ cơ khí giao thông v.v… Đây mới chỉ là khâu đầu tiên đã là những vấn đề còn cực kỳ yếu kém, nan giải ở nước ta.

Hiện trường vụ tai nạn đường sắt cao tốc ở Trung Quốc. Ảnh AP

Vậy khi nào Việt Nam sẽ khai thác đường sắt cao tốc? Đây là một câu hỏi không thuần tính kinh tế mà có liên quan đến quy hoạch phát triển không gian đô thị. Về tính kinh tế, giá trị thời gian (value of time) là thước đo khá chuẩn để xác định thời điểm thích hợp mở dịch vụ đường sắt cao tốc. Giá trị thời gian tiết kiệm được từ việc chuyển đổi từ phương thức đi lại chậm hơn (tàu thường hoặc xe buýt) sang tàu cao tốc tỷ lệ thuận với thu nhập đầu người (GDP/người). Nhật Bản mở tuyến đầu tiên năm 1964 khi GDP/người quy đổi ra sức mua hiện tại là hơn 5.000 USD/người/năm. Trung Quốc mở tuyến đầu tiên năm 2004 khi sức mua của đại bộ phận người dân mới ở mức dưới 4.000 USD thì chứng minh một điều là chỉ có những người thuộc nhóm thu nhập cao nhất trong xã hội (top 20%) mới có khả năng chi trả. Bên cạnh đó, các nhà hoạch định Trung Quốc đã phóng đại sức chi trả của nhóm nhà giầu, xác lập giá vé tàu cao tốc quá cao để duy trì tốc độ vận hành trung bình 300km/h hoặc hơn (càng chạy nhanh thì càng tiêu hao nhiên liệu và càng phải chi nhiều hơn cho hao mòn máy móc và đảm bảo an toàn) nhằm chứng tỏ khả năng vượt trội so với các tàu Shinkansen của Nhật Bản (thường chỉ chạy ở mức 250-275km/h). Vì thế mới dẫn đến tình trạng tàu cao tốc vắng khách. Tuy nhiên, giới quản lý Trung Quốc gần đây đã nhận thức được thiếu sót này và đã chủ động hạ thấp vận tốc khai thác để hòng giảm giá vé, tăng số lượng hành khách. Tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa tạo ra được đột phá, bởi vì thời điểm mở vẫn hơi sớm ở một số tuyến đường.

Sự phát triển các đô thị dọc tuyến cao tốc là điều kiện cần thiết thứ hai. Các đô thị này phải có quy mô dân số ở mức độ cao nhất định nào đó để đáp ứng đủ lượng cầu. Đối với Việt Nam, ngoại trừ Hà Nội dân số khoảng 6 triệu người và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 7 triệu người, còn lại các thành phố khác đều không  quá 1 triệu người. Nếu không có kế hoạch phát triển một số thành phố chủ đạo dọc tuyến Bắc Nam để đạt dân số tầm trên 2 triệu trở lên thì sẽ không đủ lượng cầu (đảm bảo về cả lượng và chất). Ví dụ ở Nhật Bản, tuyến Tokyo (13 triệu người) – Osaka (2,7 triệu người), 600 km có thành phố Nagoya (2,1 triệu người) và và Kyoto (1,5 triệu người) nằm ở giữa. Đấy là một sự phân bố về lượng cầu rất tốt cho đường sắt cao tốc hoạt động.

Ở Trung Quốc, trừ một vài tuyến chạy từ Bắc xuống Nam như Bắc Kinh – Thượng Hải có sự phân bố dân cư rất tốt, các thành phố dọc tuyến có thu nhập trung bình đầu người cao, do vậy lượng hành khách khá đông (chiếm khoảng 60-70% số ghế ngồi) thì hầu như các tuyến còn lại đặc biệt là các tuyến hành lang Đông Tây đều không đạt các yêu cầu trên nên mới có tình trạng tàu vắng khách (chỉ khoảng 20% số ghế có khách ngồi). Đây là bài học đáng giá cho các nước đi sau như nước ta.

Mặc dù Quốc hội khóa 12 đã sáng suốt bác dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam nhưng lãnh đạo ngành giao thông vẫn bám víu vào khoản tài trợ của cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) để nghiên cứu khả thi 2 đoạn Hà Nội – Vinh và Nha Trang – TP Hồ Chí Minh. Công việc cấp bách, thiết thực nhất là tập trung nâng cấp các tuyến đường sắt quốc gia lạc hậu hiện tại và việc phát triển các tuyến đường sắt nội đô là bước đệm để chuẩn bị tốt các công nghệ, kỹ thuật liên quan. Không làm được điều này thì khỏi bàn đến đường sắt cao tốc, chứ đừng nói đến việc nghiên cứu thực hiện nó.

Tô Văn Trường

Theo Vietnamnet
 

Advertisements
%d bloggers like this: